Lục Châu Học
CHƯƠNG V
CAO ĐÀI: ĐẠO Ở
VÙNG ĐẤT MỚI
Nguyễn Văn Trung
Đi t́m hiểu con
người miền Nam, chúng tôi không thể không chú ư
đến khía cạnh tôn giáo, nhưng không phải nhằm
t́m hiểu tôn giáo này tôn giáo kia chủ trương ǵ về
mặt giáo lư, mà chỉ nhằm t́m hiểu con người
theo tôn giáo đó: trong hoàn cảnh nào, tại sao, nghĩa là
t́m hiểu về mặt lịch sử và xă hội
học, dân tộc mà thôi. Trong tập đầu này, chúng tôi
có nói đến Cao Đài - và chỉ qua những tài
liệu chúng tôi có là v́ theo lề lối chúng tôi đă
đề ra: giới thiệu tài liệu th́ hiện nay
chúng tôi chỉ có ba tài liệu dưới đây: Cái Án Cao
Đài của Đào Trinh Nhất ("Cái án Cao Đài
của Băng Thanh" và tài liệu nghiên cứu đánh
máy của La Laurette và Vilmont, hai viên chức cao cấp Pháp
thời đó).
Trong bản giới thiệu
cuốn của Đào Trinh Nhất, nếu người
đọc thấy chúng tôi đưa ra những nhận xét
ǵ th́ đó là những nhận xét vào tài liệu La Laurette và
Vilmont.
Người đọc sẽ
nhận ra sự khác biệt giữa lối nh́n của
Đào Trinh Nhất với hai tác giả Pháp; và chúng tôi
đặc biệt chú ư tới những lối nh́n này,
nhất là lối nh́n của hai tác giả Pháp v́ tài liệu
của họ, theo chúng tôi nhận định, góp phần
vào việc làm sáng tỏ một cách có cơ sở, đáng
tin cậy, vấn đề nguồn gốc đạo Cao
Đài, nếu ngày nay, người ta vẫn c̣n muốn t́m
hiểu đạo này một cách nghiêm chỉnh để
xác định một thái độ. Ngoài ra, về
phương diện Lục châu học, tài liệu của
họ cũng là một dẫn chứng cụ thể cho
những nét sinh hoạt của con người miền Nam,
mà chúng tôi muốn t́m hiểu, tŕnh bày, v́ họ đă làm
một công tŕnh nghiên cứu phân tách dựa trên một
tiền đề căn bản: coi đạo Cao Đài là
một hiện tượng thuần túy Nam Kỳ (Il est
strictement Cochinchinois, p. 126).
CÁI ÁN CAO ĐÀI CỦA ĐÀO
TRINH NHẤT
NHẬN XÉT:
A- Văn kiện hiện có là
cuốn "cái án Cao Đài" do Imprimerie Commerciale Saigon
xuất bản năm 1929. Trang b́a, ngoài nhan đề sách và
tên nhà xuất bản, chỉ ghi thêm: Sách nên đọc giá
mỗi cuốn 1đ00. Sách gồm 158 trang, có nhiều trang
quảng cáo xen vào cuối mỗi chương. Và theo
"Mấy lời nói đầu" của chính tác
giả, th́ cuốn sách này đă đăng trên báo Công
Luận năm 1928 dưới bút hiệu khác là
Trương Văn Thu.
"Cái Án Cao Đài" có
mục lục như sau ở trang 158:
1. V́ sao ta nên nói tới
đạo Cao Đài? 2. Nguồn gốc của đạo
Cao Đài 3. Giê-su và đạo Cao Đài 4. Lăo tử và
đạo Cao Đài 5. Phật Thích Ca và đạo Cao
Đài 6. Khổng Tử và đạo Cao Đài 7. Lư Thái
Bạch và đạo Cao Đài 8. Quan Công, Khương
Thượng và đạo Cao Đài 9. Ngó lại cơ
sở tôn giáo của đạo Cao Đài. 10. Gốc mê tín
11. Sự cầu tiên và Thần học 12. Đức Cao
Đài dạy đạo thế nào 13. Đức Cao Đài
làm thơ 14. Và sự giáng cơ đôi lúc không làm cho con
người xót xa và cảm thấy ḿnh có một trách
nhiệm, dù nhỏ. Nếu hiện tại với tính
chất cụ thể của nó không hẳn có đủ
sức mạnh để tạo ra ư thức liên
đới và trách nhiệm đối với người
khác th́ làm sao một tương lai trừu tượng
lại có đủ sức mạnh được? Có
lẽ Jonas cũng đă lờ mờ nhận ra
điều này nên ông xem trách nhiệm của cha mẹ là
một phản-thí-dụ (contre-exemple) của trách nhiệm
đối với nhân loại tương lai, 25 trong khi
đă coi nó là nguyên mẫu.
Dù tương lai có đủ
sức mạnh th́ hành động phù hợp với ư
thức trách nhiệm mới phải là hành động chính
trị v́ mọi quyết định liên quan đến
kinh tế, sự nghiên cứu khoa học vượt
khỏi khả năng và thẩm quyền của cá nhân.
Đạo đức "trách nhiệm" của Jonas
gắn liền với chính trị. Nhưng không phải
quyền lực chính trị nào cũng có thể thực
hiện được các qui luật của nền
đạo đức này. Đối với Jonas, chỉ có
quyền lực của một thiểu số độc
tài và sáng suốt mới có đủ khả năng
"đảm nhận trách nhiệm đối với
tương lai, về mặt đạo đức cũng
như về mặt trí thức."26 Trong tác phẩm
của ông, xuất bản năm 1979, Jonas nh́n nhận là
"về phương diện kỹ thuật cầm
quyền, [chế độ Cộng sản] tỏ ra có
khả năng thực hiện các mục tiêu [của
đạo đức trách nhiệm] hơn chế
độ tư bản tự do dân chủ."27
Một quan niệm chính
trị như vậy không phù hợp chút nào với thực
tế lịch sử (v́ về mặt hủy hoại môi
sinh các nước cộng sản không thua kém các
nước tư bản). Ngoài ra, quan niệm đó không
biết đến những khả năng tốt
đẹp của chế độ dân chủ về
phương diện môi sinh học dù nó có khiếm khuyết
về phương diện khác.
Ở một quan điểm
khác, đạo đức "trách nhiệm" của
Jonas có thể coi là c̣n thiếu sót tuy đă thiết lập
và biện minh bổn phận phải bảo vệ thiên
nhiên, v́ nền đạo đức đó xem bổn
phận nầy là hệ luận của bổn phận
đối với nhân loại. Với Jonas, thiên nhiên tự
nó và trong chính không phải là một giá trị mà con
người buộc phải tôn trọng ngoài mọi dự
phóng thực dụng.28 Đối với chủ nghĩa duy-môi-sinh
(ecologisme) ngày nào nhân loại chưa có một ư thức
về giá trị nội tại của thiên nhiên th́ ngày đó
môi sinh vẫn c̣n là một vấn đề cho nhân loại
và sự sống của chính nhân loại vẫn c̣n bị
đe dọa:
CHÚ THÍCH
1. Passmore, John, Man's Responsibility
for Nature, (Lon don: Duckworth, 1974) trg. 53.
2. Passmore, sđd., trg. 186-187.
3. Routley, Val, "Critical Notice" Australasian
Journal of Philosophy, Vol. 53, NO. 2, August 1975, trg. 176.
4. Ravindra, Ravi, "The Indian View of Nature" in
Ravi Ravindra (ed.), Science and Spirit, (New York: Paragon House, 1991),
trg.38.
5. Chúng tôi theo bản dịch Pháp Ngữ
của Jean Greisch: Le Principe Responsabilite, Paris, Les Editions du
Cerf, 1990.
6. Trích dẫn trong Jonas, sđd., trg. 23.
7. sđd., trg. 34.
8. sđd., trg. 38.
9. sđd., trg. 42.
10. sđd., trg. 26.
11. sđd., trg. 28.
12. sđd., trg. 24.
13. sđd., trg. 29-30.
14. sđd., trg. 30-31.
15.sđd., trg. 130.
16.sđd., trg. 132.
17.sđd., trg. 176-177.
18. sđd., trg. 174.
19. sđd., trg. 60.
20.sđd., trg. 70.
21.sđd., trg. 107.
22. sđd., trg. 118-119.
23.sđd., trg. 187.
24. sđd., trg. 181.
25. sđd., trg. 184.
26. sđd., trg. 200.
27. sđd., trg. 200. |
28. sđd., trg. 250.
c̣n nhiều chỗ láo nữa
15. Tiên giả hay là giả Tiên. 16. Nói về sự dụ
người vào đạo. 17. Nói về sự đi quyên
tiền 18. Nói về sự in kinh và dịch sách 19. Nói
về sự bán thánh tượng 20. Nói về sự
cướp chùa của dân gian 21. Hiệp thiên đài và
Cửu trùng đài 22. Nói về Cựu luật và Tân
luật. 23. Kết luận.
Đọc lướt qua
mục lục trên, người đọc có thể
nghĩ đây là một cuốn biên khảo về
đạo Cao Đài. Sự thực không phải thế:
tác giả, như nhan đề sách đă công khai xác
định, viết cốt để lên án đạo Cao
Đài. Vốn là kư giả, ưa dùng từ
"nổ," "giật gân," Đào Trinh Nhất
dùng từ "cái án Cao Đài" vậy thôi, chứ
thực ra nội dung cuốn sách cho thấy rơ đây
chỉ là bản luận tội kết tội của
Biện lư, Công tố viện. Cuối chương chót tác
giả cũng chỉ đề nghị bản án với
nhân dân.
Vẫn trong "Mấy
lời nói đầu", tác giả đă công khai xác
định lập trường, vị trí và chủ
đích của ḿnh như sau:
"Cao Đài là một
thứ tà đạo: Phải, tôi nói rằng Cao Đài là
một thứ tà đạo. Độc giả coi sự
tín ngưỡng và cách tổ chức của họ, mà tôi
nói ở trong nầy sẽ thấy. Tôi muốn rằng
những yêu ngôn từ thuyết như đạo Cao
Đài, th́ trở về thời đại bốn ngàn
năm về trước, hay là đem để nó vào
những biển cát rừng xanh ở bên Châu Phi bây giờ,
chứ không nên để vào trời đất nước
Việt Nam nầy, đương cần tiến hóa, mà cho
những thứ yêu ngôn tà thuyết hoành hành như thế
không được...
Tôi phơi cả những
chỗ dại khờ giả dối của đạo Cao
Đài ra, mà chẳng e lệ ngại ngùng ǵ hết, là
chỉ thuận theo mạng lịnh của lương tâm
sai khiến, mong ngăn đón cái trào lưu của thứ
tà đạo ấy, không cho hoành hành, và mong cảnh tỉnh
các anh em thành thiết mà bị lầm lạc. Ấy là
điều hy vọng thứ nhất của tôi, c̣n
những sự phải khen chê, tôi không nghĩ
đến...."
Giọng văn kư giả
đầy sôi nổi, khẳng định tùy tiện như
trên kéo dài khắp cuốn sách. Nhưng nếu chỉ có
vậy th́ cuốn sách không có giá trị ǵ hơn là giá
trị bút chiến thời sự ở một thời
đại đă qua. Sự thực như mục lục
đă cho thấy, Đào Trinh Nhất là một người
có tŕnh đôï văn hóa cao, kiến thức khá rộng răi, bản
luận tội của ông rất đanh thép, có cơ
sở, có lư luận tư liệu lại phong phú và
tương đối chính xác. Chính v́ thế cuốn
"Cái Án Cao Đài" mới đáng cho hậu sinh chúng ta
quan tâm tới - như một tư liệu văn và sử
trước 1930 đă đành - mà c̣n v́ đạo Cao Đài
tiếp tục tồn tại cho tới gần đây
với những mốc dấu: Hộ pháp Phạm Công
Tắc bị Pháp đày đi đảo Madagascar
đến khi Đệ II Thế Chiến bùng nổ
mới được tha về, Nhật có ủng hộ
đạo thời kỳ 30-45, Pháp lôi kéo về phía ḿnh
thời kỳ chống Pháp biến thành khu tự trị với
quân đội riêng, sau 1954 hai ông Diệm Nhu đă liên minh
với quân đội giáo phái Cao Đài để đánh
bại đám "anh hùng thảo khấu B́nh Xuyên"
ở Saigon. Tàn dư của liên minh này c̣n tồn tại
dưới h́nh thức một Nha tuyên Úy Cao Đài, dù
rất khiêm tốn so với Công giáo, Phật giáo, trong quân
đội chế độ cũ sau 1963.
Theo ư chúng tôi, đạo Cao
Đài đă ra đời từ một hoàn cảnh
lịch sử nhất định - khó mà có trước
1914 và không thể có sau 1945 - và ở một miền đất
nhất định: vùng đất mới khai hoang miền
Nam Việt Nam - đạo Cao Đài không thể phát sinh
ở miền Bắc hay ở miền Trung.
Những yếu tố sau
đây đă tạo ra, hay cho phép xuất hiện
đạo Cao Đài:
1. Tinh thần bao dung, ḥa
đồng tôn giáo của dân tộc Việt nam.
Một trong những ưu
điểm lớn của dân tộc Việt Nam là tinh
thần bao dung ḥa đồng tôn giáo. Khi Ngô Quyền,
Đinh Bộ Lĩnh tạo dựng lại một
quốc gia Việt Nam mới vào thế kỷ 10, v́
thiếu thốn viên chức có khả năng cai trị,
hai vị này đă đưa tối đa vào hàng ngũ
Tăng Lữ Phật giáo. Đến các triều
đại sau, Khổng giáo tỏ ra thích hợp với nhu
cầu một nước nông nghiệp đă ổn
định hơn, th́ Phật giáo từ từ rút về
chùa: các thiền sư nhường chỗ cho các nho sĩ
mà không gây một va chạm nào. Mặt khác, có triều vua
c̣n dung ḥa khéo léo bằng cách mở khoa thi Tam giáo.
Khi Khổng giáo trở thành ư
thức hệ quốc gia th́ h́nh ảnh một ông nghè
chống gậy lên chùa đàm đạo với thiền
sư, hay đi ngoạn cảnh núi rừng với
đại sĩ, vẫn là h́nh ảnh thông thường
của Việt Nam xưa.... Tinh thần bao dung ḥa
đồng tôn giáo này lại trở thành đậm nét
hơn ở vùng biên địa khai hoang miền Nam. Không
nơi nào con người tôn trọng con người hơn
vùng đất mới. Quy luật này đă được
lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ minh chứng:
khi mới thành lập các thuộc địa đầu
tiên, đă có những tăng lữ đạo Tin Lành
cố gắng đ̣i cho đạo ḿnh trở thành quốc
giáo. Nhưng họ gặp sự phản đối
quyết liệt ngay từ các di dân cũng theo đạo
Tin Lành và hậu quả là các di dân khai hoang của Hoa Kỳ
đă trịnh trọng ghi hẳn vào Hiến pháp ḿnh
điều căn bản: không một tôn giáo nào
được phép trở thành quốc giáo tại Hiệp
Chủng Quốc Mỹ Châu...
Vậy chính tinh thần bao dung
tôn giáo rất đậm nét của miền Nam đă là
cơ sở đầu tiên cho sự phát sinh đạo Cao
Đài.
2. Sự mỏi mệt,
lỗi thời của các tôn giáo cũ.
Trước hết hăy xét
Phật Giáo: Thứ Phật Giáo "tại chỗ"
của dân Chiêm Thành và dân Khmer là ngành Phật Giáo tiểu
thừa, chỉ chú trọng tới việc tu hành nhằm
giải thoát cho cá nhân ḿnh mà thôi, đă tỏ ra không thích
hợp bao nhiêu với tinh thần, t́nh tự liên đới
đồng loại cao của dân khai hoang biên địa.
Hơn nữa, thứ Phật Giáo đại thừa
của Bắc và Trung kỳ dù có quan tâm cứu đôï chúng
sinh hơn, cũng khó phát triển ở miền Nam vào
thời kỳ Pháp đă khai thác thuộc địa: hăy
thử tưởng tượng một xă khai hoang
đầu thế kỷ 19 ở Rạch Giá mà theo Phật
Giáo một trăm phần trăm xem sao, có ổn không.
Miền biên địa Lam Sơn chướng khí śnh
lầy như thế mà bảo "giới tửu" sao?
Dưới sông sấu lội lềnh bềnh, trên bờ
cọp quanh quẩn, rắn đi dạo trong nhà mà bảo
"kiêng sát sinh?" Mới xét sơ sơ như thế
đă thấy đạo Phật "không ổn"
rồi, chưa kể tới chuyện "không có giá
trị kinh tế": lo ăn đủ thứ ǵ ăn
được (rắn, rùa, chuột nữa...) để
lấy sức lao động nặng c̣n chưa xong, tính ǵ
tới việc ăn chay. Lo chinh phục thiên nhiên, thuần
hóa đất đai để kiếm sống cho bản
thân, gia đ́nh chưa xong, dư tiền của sức
lực đâu mà lo tới chùa chiền.
Xét tới Nho giáo - nếu Nho
giáo thích hợp với một chế độ quân chủ
nông nghiệp th́ đạo này lại khó thích nghi với
một xă hội đang chuyển ḿnh sang công nghiệp.
Về chính trị, hồi đầu thế kỷ, Nho giáo
được các nhà trí thức tây học coi như
một ư thức hệ bảo vệ bản sắc dân
tộc trước đe dọa mất gốc do chính sách
thuộc địa gây ra. Nhưng vào những năm 30, t́nh
h́nh đă thay đổi. Xă hội miền Nam, nhất là
vùng Gia Định đă biến chuyển vào nếp
sống đô thị hóa và tư sản, Nho giáo khó thích nghi
với một t́nh h́nh như vậy. Bởi thế,
mặc dù dân miền Nam vẫn c̣n rất "nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín" nhưng nội dung đă
được sửa đổi và xét về phương
diện đáp lại các nhu cầu siêu h́nh (từ này chúng
tôi dùng để chỉ thứ nhu cầu tinh thần, t́nh
cảm hướng thượng xuất hiện khi con
người đă giải quyết xong cái ăn, uống,
mặc, ở và cả cái sinh lư tính dục nữa...). Nho
Giáo không thể c̣n thỏa măn được mọi nhu
cầu. Ngoài ra, do vị trí địa lư chính trị
của ḿnh, nhất là cảng Sài G̣n miền Nam c̣n là
phần đất mở cửa ra Thái B́nh Dương bao
la, xôn xao nhiều luồng văn hóa mới. Ngoài văn minh
Địa Trung Hải mà Pháp là tiêu biểu, văn minh
Bắc Mỹ đă xuất hiện - trong những phần
dưới đây, chúng tôi ghi chép lại cả các quảng
cáo đương thời với đạo Cao Đài, là
với mục đích minh chứng phác thảo xă hội
đă sản sinh ra thứ đạo này.
Đó là xét về cái nền,
hoàn cảnh xă hội đă cho phép đạo Cao Đài ra
đời. C̣n xét về con người, những
người sáng lập đạo và các tín đồ, chúng
tôi ghi nhận những điểm sau:
Đối với chức
sắc: Ngoài tham vọng cá
nhân b́nh thường như tiền bạc, chức
tước, họ bị thúc đẩy bởi hai yếu
tố khác khá quan trọng là tinh thần thấn bí mơ
ước trường sinh và ḷng yêu nước. Về
yếu tố thứ nhất các sách báo đă bàn nhiều.
Về ḷng yêu nước - mà ông Đào Trinh Nhất phủ
nhận - th́ sự bộc lộ, phương thức
đấu tranh của giới chức sắc Cao Đài có
những nét khác các đảng phái, hôïi kín đương
thời. Họ không tin ở bạo lực cách mạng, dù
theo kiểu quốc dân hay đảng Cộng Sản
đảng. Họ muốn sử dụng ḷng mê tín của
quần chúng - như Hồng Tú Toàn với vụ nổi
dậy Thái B́nh Thiên Quốc - để tạo dựng trong
ṿng địch một thứ cộng đồng thoát ra
ngoài ảnh hưởng của chính quyền Pháp. Họ
muốn tạo dựng ra một thứ như chính
quyền Pháp đă kết án họ: "Un état dans l,état"
("Một quốc gia trong một Quốc Gia"). Dĩ
nhiên không nhà cầm quyền nào chấp nhận một
sự kiện như vậy nên họ đă ngăn
chận, bằng biện pháp hành chánh tất nhiên v́ bao
giờ các chức sắc Cao Đài cũng thu xếp cho
đạo ḿnh càng công khai, hợp pháp bao nhiêu càng tốt
bấy nhiêu: Pháp đă ngăn không cho Cao Đài tràn sang Cao
Miên, ra Trung ra Bắc. Cao Đài liền hướng nỗ
lực vào châu thổ Cửu Long và họ đă tương
đối thành công. Với con số nửa triệu tín
đồ sẵn sàng tuân theo lệnh từ ṭa thánh Tây Ninh,
không phải là chuyện có thể đùa được.
Đối với tín
đồ: Họ gồm hai
thành phần chính: vô sản thành thị -nhất là vô
sản lưu manh - và nông dân nghèo, chủ yếu là tá
điền. Đời sống của họ không mấy
khá; nghèo, thất học.... Nay nhờ đạo Cao Đài
mà ḿnh được tiếp xúc, tới gần cơi tiên,
không mê sao được. Mê cho đời đỡ
khổ, cho được an ủi và để ước
mơ một chốn non Bồng nước
Nhược.... Mặt khác, dù là dân thành thị hay nông thôn,
th́ họ cũng không ưa ǵ Pháp. Họ có được
hưởng, chia chác ǵ từ Pháp đâu. Ở thành thị
th́ Pháp chỉ là ông xen đầm có cái "duồi cui,"
ở nông thôn th́ h́nh ảnh ông Tây thực dân đầu
đội nón cối tay cầm ba-toong dứt khoát không
phải là kẻ mang lại "tin lành." Trở thành tín
đồ Cao Đài, chít khăn, áo dài trắng, để
râu tóc, ăn chay... họ gần như một thứ ông
Đạo - đă là như thế đâu sợ ǵ Tây
nữa.... Họ nh́n "ông Tây" không phải với con
mắt sợ sệt, cầu xin ân huệ, mà thờ ơ
lạnh nhạt.
Nói tóm lại, nếu Ḥa
Hảo chính là Phật Giáo Nam Bộ hóa thích nghi với
miền châu thổ Cửu Long, th́ đạo Cao Đài là
sản phẩm của lưu vực Đồng Nai, hay
chính xác hơn, của dân Saigon - Gia Định. Đạo
Cao Đài là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, một
giấc mơ chưa thành của dân miền này, trong
một thời kỳ lịch sử đă qua rồi.
TÓM LƯỢC:
Sau "mấy lời nói
đầu", độc giả yên trí sẽ
được đi vào chương đầu của
sách. Nhưng với "Cái án Cao Đài", lại là
bốn trang quảng cáo. Chúng ta đă biết quảng cáo
phản ánh thời đại một cách khá trung thực,
phong phú, đa dạng về nhiều mặt, từ văn
chương cổ động tới nhu cầu
người dân sinh hoạt kinh tế, xă hội. Bởi
thế, chúng tôi giới thiệu luôn cả những
quảng cáo này, mỗi khi gặp trong sách.
Quảng cáo đầu tiên là
của hăng Lucien Berthet - Cie, Bd Charner Saigon, quảng cáo
"muốn cho cẩn thận, phải nên mua một
tủ sắt hiệu: Pettit Jean, th́ dẫu có kẻ
trộm cũng không cạy nổi và rủi có cháy nhà
cũng hông hề ǵ, quảng cáo tiếp cũng của hăng
kể trên về kem bôi mặt "Crème Siamoise" (kem Xiêm),
viết bằng hai thứ tiếng: Việt và Pháp.
Quảng cáo thứ ba được đặt
dưới khẩu hiệu "Trung-Nam-Bắc một
nhà" là của Phạm Hạ Huyền, Transitaire - (chúng
tôi chưa hiểu từ Việt tương
đương là ǵ) 36 Sabourain - Téléphon N.231-Adr. Télégraphe TRANSITA
Saigon: "Làm môi giới cho các nhà công thương. Bán
xuyến, lănh dù, cườm Saigon. Nhuộm lănh Bắc theo
lănh Tàu. Gởi lănh hàng hóa. Nhận bán consignation các hàng hóa
Bắc và Nam..." (cái tên gọi là địa chỉ
đủ chứng tỏ đây là một cơ sở
thương mại môi giới của người
Việt, hoạt động toàn quốc - dĩ nhiên
đủ sức đương đầu với
thương gia Hoa ở Chợ Lớn: chúng ta ghi nhận
sự lớn mạnh của giới công thương gia
Việt thành thị, một trong những chỗ dựa
của Cao Đài lúc đầu.
Quảng cáo thứ bốn
mở đầu thế này:
"Thưa các ông,
Nếu các ông không ăn
uống, th́ các ông không thể làm việc đặng.
Nếu các ông không vung phân cho ruộng, th́ ruộng không sanh
sản đặng. Vậy, muốn mùa màng đặng thanh
vượng th́ phải vung phân trong các sự trồng
tỉa của các ông.
Bởi vậy đều
cần ích là phải chọn thứ phân tốt cho mỗi
cách trồng tỉa và ấy cũng đều lợi cho
các ông là dọ hỏi nơi hăng: DIETHELM -Ce, Quai de Belgique, 39
- Saigon"
Trang kế tiếp vẫn dành
cho công ty này quảng cáo về máy móc, nhưng không phải
là máy vặt, mà là: "Sẵn ḷng cho các ông hỏi han
về sự dựng nhà máy" (Ở đây là nhà máy xay
thóc, gạo). Điều đáng chú ư là như vậy phân
hóa học đă được miền Nam biết tới
và sử dụng khá rộng răi trước 1930.
Sau 4 trang quảng cáo trên,
mới tới chương một của "Cái Án Cao
Đài" nhan đề:
I. V́ SAO TA NÊN NÓI TỚI
ĐẠO CAO ĐÀI
Chương này rất
ngắn, chỉ có ba trang, tŕnh bày lập trường
tổng quát của tác giả:
"Đạo Cao Đài
mới xuất hiện có hai năm trời mà đă chiêu
tập được trên 70 vạn tín đồ, có quan, có
dân, có bọn nhà giầu, có nhà học vấn, chẳng
thiếu một hạng nào. Cứ lấy thời gian và
nhân số, đem so với đạo Thiên chúa truyền
sang sứ ta ba năm trời, c̣n nhờ binh lực của
nước Pháp, mà tới nay chừng được trên
100 vạn người theo, th́ đạo Cao Đài
thiệt là mau chóng và thạnh hành quá sức... Cái án Cao
Đài là một vấn đề tín ngưỡng, có quan
hệ tới thế đạo nhân tâm, mà quan hệ
tới một việc to hơn hết, là việc "dân
chúng hóa," vậy th́ chỗ hay dở xấu tốt
của đạo ấy ra sao, không thể bỏ qua cho
đặng...
"Chúng tôi không có cái sơ tâm
nào là muốn làm ngăn trở hay phá hoại ǵ đạo
Cao Đài... chúng tôi cũng không có ư buộc cho đạo
Cao Đài có quan hệ cho tới việc chánh trị, v́
đạo là đạo Cao Đài, mà buộc cho sự lớn
lao đó, th́ rất là vô lư, v́ ban cho mấy ông trọng
yếu trong đạo, mấy ông ấy h́nh như c̣n lo
việc ǵ hơn kia, chớ lo tới chánh trị làm chi cho
mệt...".
Chúng tôi ghi nhận con số 70
vạn Đào Trinh Nhất nêu ra có lẽ hơi cao. Theo
tư liệu của chính sổ sách đăng kư của
đạo này, con số tín đồ lên cao nhất
thời kỳ 1928-32 là 50 vạn. C̣n về chính trị th́
nhà cầm quyền Pháp hồi đó không hề đồng
ư với ông Đào Trinh Nhất: họ rất lo ngại.
Họ đă nh́n xuyên qua những chuyện lặt vặt um
xùm hoa lá của đạo Cao Đài để thấy
một âm mưu, một tổ chức có ư hướng xóa
bỏ chính quyền thuộc địa Pháp tại miền
Nam - chúng tôi sẽ nói đặc điểm này khi giới
thiệu tài liệu của Pháp tiếp sau.
Chương I chấm dứt
bằng một trang quảng cáo máy hát của hiệu Pathé
nhăn hiệu con gà trống: "Nên dùng một cái máy hát
của hiệu Pathé đặng giải cơn buồn và
nhất là trong khi hữu sự, ngày tết ngày tiệc, nó
lại càng giúp vui thêm nữa. Hăng Pathé lại có bán thứ
máy bóng tại gia, kêu là Pathé Baby... lại có bán thứ máy hát
làm film hát bóng đặng sài theo máy Pathé Baby trên...".
(Cái máy "Pathé Baby" là máy
chiếu phim cỡ nhỏ, c̣n cái máy sau là máy quay phim cỡ
nhỏ).
II. NGUỒN GỐC CỦA
ĐẠO CAO ĐÀI
Tác giả Đào Trinh Nhất
ghi nhận: "Đạo Cao Đài tuy mới thành lập
trên hai năm nay, là từ lúc có ông Giáng Cơ tự xưng
là "Ngọc Hoàng Thượng Đế," song cái
nguồn gốc thiệt là manh nha ở đạo tu tiên...
phát nguyên từ việc cầu tiên.
Nhà phát minh ra đạo ấy
trước hết, không phải là ông Lê Văn Trung, mà là
ông Phủ Chiêu. Ông này từ năm 1919, hồi c̣n tại
chức ở Hà Tiên, vốn là một người sùng bái
đạo tiên lắm, những muốn ăn chay, sám
hối, để cầu được đạo
trường sanh. Có một lối ông đổi về
ở phủ Thống Đốc Saigon, đem đạo
ấy ra truyền bá cho anh em đồng bối. Sau ông
Phủ Chiêu lại đổi ra Hà Tiên chuyến nữa;
chuyến này ông tu luyện càng gắt, cầu cơ luôn luôn
th́nh ĺnh hôm ấy có cơ giáng, tự xưng là Ngọc
Hoàng Thượng Đế lấy thánh danh là "Cao
Đài Tiên Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" hạ
trần để giáo dục phương Nam.
Chừng đó ông Lê Văn
Trung cùng các bạn đồng t́nh, mới lấy đó mà
lập nên đại đạo. Đạo Cao Đài bèn
xuất thế.
Tại sao lại có cái tên Cao
Đài? Tại sao có cái thiên nhăn? Tạo sao lại kêu là
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ?"
Căn cứ vào lời
những người trọng yếu trong đạo,
Đào Trinh Nhất giải thích:
- Cao Đài là tên của
Ngọc Hoàng Thượng Đế, khi giáng cơ ngài
xưng là: "Cao Đài tiên ông Đại Bồ Tát
Ma-Ha-Tát".
- Đạo Cao Đài thờ
một con mắt v́ đó là mắt của Ngọc Hoàng
Thượng Đế... sáng như gương, soi
khắp thế giới không mảy múng ǵ ở phàm trần
này là ngài không biết đến.
- Tam kỳ phổ độ
là lần thứ ba Ngọc Hoàng giáng thế: lần 1 lâu
lắm rồi, lần 2 là Thích-Ca-Mâu-Ni ở Ấn, lần
3 ngài giáng ở Việt Nam nhưng không ra mặt, chỉ
dùng huyền cơ diệu bút mà dạy đạo Cao
Đài thôi.
Dưới thiên nhăn,
đạo Cao Đài thờ Lăo Tử, Khổng Tử, Thích
Ca, Giê Su, Lư Thái Bạch Quan Vân Trường Khương
Tử Nha... Bởi thế người Pháp hay gọi
chế riễu là "thứ đạo tạp hóa" (La
Réligion de bazar)...
Về tổ chức, Đào
Trinh Nhất cho biết: "Trật tự trong đạo
họ cũng khéo bắt chước theo h́nh như Ṭa thánh
bên Ư, mà chia ra Đầu sư, Phối sư, Giáo hữu,
Lễ sanh, kêu là các vị thiên phong, nghĩa là những
chức ấy tự Ngọc Hoàng giáng cơ xuống phong
cho như vậy. Lại chia riêng từng ban lập pháp và
ban hành chánh.... Nhưng nghe nói các ông thiên phong hay v́ chuyên
tiền bạc của đạo, mà rầy lộn nhau
luôn. Chuyện đó để rồi sẽ nói."
Trong chương này, Đào
Trinh Nhất nhận xét ngay về ba vị Lư Bạch, Quan
Vân Trường, Khương Tử Nha: "... bất quá
chỉ là danh nhơn một thời, hoặc có tài múa
gươm giỏi, hoặc có tài làm thi hay, có thành ra một
tôn phái ǵ, một học thuyết ǵ, đáng kể cho muôn
đời thờ lạy?" C̣n đối với các
vị Giê-su, Lăo, Phật, Khổng th́: "Từ bài sau
trở đi, tôi sẽ bày tỏ cái lập thuyết, cái
chủ nghĩa của mỗi ông mà đạo Cao Đài
thờ đó, là trái ngược nhau, lại nói rơ lập
thuyết của mỗi ông đối với đạo
Cao Đài có chỗ bất tương dung là thế
nào...."
Chương này chấm
dứt bằng một trang quảng cáo mở đầu
như sau: "RẤT ĐÚNG BỰC PHONG LƯU".
Vậy "Bực phong
lưu" thời đó phải có, phải mua cái ǵ? Đó
là đĩa hát hiệu Beka của hăng Société Indochinoise
d'Importation Saigon đă: "chẳng măn sự tốn kém
rất nhiều, mà rước Bát vật Atơmăn qua
Saigon hầu chế nhiều cách hóa vật mà tạo ra
đĩa "BEKA" cho tận kỳ huê mỹ" (Bát
học Atơmăn đây có nghĩa là "bác học
Đức").
III. GIÊ SU VÀ ĐẠO CAO
ĐÀI
Trước khi tŕnh bày giáo lư
Thiên Chúa Giáo, Đào Trinh Nhất mở đầu bằng
đoạn nhận định sau: "Trong đoạn
trước, tôi đă nói rằng đạo Cao Đài là
một cửa hàng tạp hóa, ai muốn cần dùng thứ
chi, th́ vào đó mua cũng có hết. Ai theo Thiên Chúa có Thiên
Chúa, theo Phật có Phật, theo Khổng có Khổng v.v... Cái
sơ tâm của các ông lập ra đạo Cao Đài
tưởng như vậy là hay ho lắm, tưởng
đem thâu góp các tôn giáo lại làm một, như vậy ai
theo đạo nào cũng có thể theo được
đạo Cao Đài, mà như vậy là đạo Cao
Đài có vẻ cao thượng siêu việt hơn hết
thảy. Các ông ấy có biết đâu rằng thế là vô
tri thức. Các món tạp hóa có thể thâu góp lại cùng
một cửa tiệm, chớ các tôn giáo không khi nào ở
chung với nhau được cùng một bàn
thờ...."
Tuy giọng văn Đào Trinh
Nhất thường như trên, nặng tính chất
"đao to búa lớn" của giới kư giả,
nhưng phần tŕnh bày về các giáo lư, triết thuyết
lại đầy đủ tương đối, chính
xác ở mức độ đáng khen. Cách thể biện
luận để bài bác đạo Cao Đài cũng khá
chặt chẽ, theo một diễn tiến như sau:
- Tŕnh bày tiểu sử vị
sáng lập đạo hoặc triết gia - Tŕnh bày giáo lư,
triết lư chính - chứng minh không hợp với
đạo Cao Đài chỗ nào.
Trong chương "Giê-su và
đạo Cao Đài", chúng ta thấy rơ cách thể
biện luận này:
A- Về tiểu sử Giê-su,
ông viết giản dị: "Ông Giê-su sanh ra ở tỉnh
thành Nazareth, xứ Galilée... Vốn con nhà b́nh dân, gia đ́nh
rất là thanh bạch, khi nhỏ ông không được
học tập văn học Hi-Lạp, La-Mă song cũng
biết được chút đỉnh... Ông Giê-su trông
thấy nỗi thống khổ của bọn cùng dân, th́
sanh ḷng cảm khái vô hạn, bèn nảy ra cái chí cứu
thế. Năm ông 30 tuổi mới bắt đầu
đi giảng đạo cứu đời... tự
nhận ḿnh là Đấng Cứu Thế và giảng dạy
cho dân chúng về sự tương ái, sự khiêm
nhường, sự khinh rẻ quyền quí, và sự
nhất tâm sùng bái Đức Chúa Trời. Ông hay thống
mạ cái bọn giả h́nh, là những kẻ quyền
hành, những kẻ giàu có, những thầy tế lễ;
mà ông ưa lân cận với những người nghèo
khó... Bọn cùng cực được nghe ông thuyết pháp,
th́ mát ḷng hả dạ, sanh ra có hy vọng, v́ chính ông là con
Chúa đă hứa nước Thiên Đàng cho kẻ nghèo
khổ, kẻ ngu hèn, nhờ vậy mà họ quên
được sự khổ sở của ḿnh, và biết
khinh rẻ mọi sự quyền thế của cải...
Chắc hẳn là ông có ḷng đại nhơn, đại
nghĩa, có cái chí thành của thánh nhơn bao la trời
đất, nên chi mới cảm hóa được
người ta như vậy".
B- Về phần giáo lư
đại cương, sau khi tŕnh bày về ḷng bác ái,
Đào Trinh Nhất có viết đoạn sau đáng chú ư:
"Ngài lại dạy cho
người ta phải có tánh khinh thường sự phú quí
như vầy: "Đừng v́ sự sống ḿnh mà lo
đồ ăn uống, cũng đừng v́ thân thế
ḿnh mà lo đồ may mặc. Sự sống há chẳng quí
trọng hơn quần áo sao. Hăy xem loài chim trời:
chẳng có gieo, gặt, cũng chẳng có thâu trữ vào kho
hàng, mà cha các ngươi ở trên trời nuôi nó. Các
ngươi há chẳng phải quí trọng hơn loài chim
sao. Vả lại, có ai trong ṿng các ngươi lo lắng mà
làm cho đời ḿnh được dài thêm một khắc
không? C̣n về phần quần áo các ngươi lại lo
lắng mà làm chi? Hăy ngắm xem những hoa huệ mọc
ở ngoài đồng mọc lên thế nào; chẳng làm khó
nhọc cũng không khó chi, nhưng ta phán cùng các
ngươi, dầu vua Sa-Lô-Mông sang trọng đến
đâu, cũng không được ăn mặc tốt,
như bông hoa nào trong giống đó. Hỡi kẻ ít
đức tin, loài cỏ ngoài đồng là giống nay c̣n
sống, mai bỏ vào ḷ, mà đức Chúa Trời c̣n cho nó
mặc đẹp như vậy thay, huống chi là các
người! Tuy vậy các ngươi chớ lo lắng mà
nói rằng: chúng ta sẽ ăn ǵ, uống ǵ, mặc ǵ. V́
mọi điều đó, các dân ngoại vẫn
thường t́m, và Cha các người ở trên trời
vẫn biết các ngươi cần dùng những
điều đó rồi. Nhưng trước hết hăy
t́m kiếm nước đức Chúa Trời, và sự công
b́nh của Ngài th́ Ngài sẽ cho các người thêm những
món đó. Vậy chớ lo lắng chi về ngày mai, v́ ngày
mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào
đủ cho ngày ấy." Những lời dạy như
vậy không kể chi cái thú vị thanh đạm về
phương diện văn chương, mà thực đă
bao hàm một ư nghĩa cao xa, ra ngoài sự vật. Thiết
tưởng các đạo giáo khác, có cái ư tưởng
đó, cũng chỉ đến vậy mà thôi."
Dĩ nhiên một giáo lư như
trên khó mà không hợp với đạo Cao Đài. Vậy
chỗ "bất tương dung" giữa hai
đạo nằm ở điểm sau:
"Đạo Thiên Chúa có
một chỗ độc tôn và nghiêm khắc hơn hết,
là buộc người ta chỉ được thờ
một Đức Chúa Trời, chớ không được
thờ thần linh nào khác. Coi trong linh Cựu Ước, có
những câu: "Đức Chúa Trời chỉ có một,
chỉ được thờ phượng một
Đức Chúa Trời, nếu thờ phượng một
tượng h́nh hay một vị thần nào khác th́ Ngài
giận dữ" và "Người phải thờ
phượng một Đức Chúa Trời, chẳng
được thờ phượng một thần nào khác
v́ Đức Chúa Trời hay ghen (Dieu est jaloux)". Về
đời trung cổ ở bên Âu Châu, lúc đạo Gia-Tô
đang thạnh hành, có thể là vô địch, có biết
bao nhiêu triệu người bị đốt bị
giết v́ theo tà đạo, ấy là chưa kể
những số người bị hại về các
cuộc tôn giáo chiến tranh cùng là v́ theo đạo Gia Tô Tân
Giáo (Protestantisme). Cũng thờ một ông giáo chủ,
nhưng chia làm hai phái, mà họ c̣n đâm giết nhau như
vậy, nói chi là theo đạo khác. Thí dụ đâu xa làm
chi, ta coi ngay cuốn sử của nước Pháp tốt
đẹp biết bao nhiêu, mà c̣n thấy có một
chương đầm đ́a những máu của bao nhiêu
con em nước Pháp chết oan trong việc chém giết
đêm hôm Saint-Barthélemy vậy... Nói tóm lại đức
Giê-su, khi ngài lập đạo, đă tự cho đạo
của người là độc tôn, không công nhận
đạo nào, cũng không liên hiệp với đạo
nào cả... Những ông Trung, Thơ, Trang, Ca v.v.. có lư nào
không hiểu tôn giáo là ǵ, sao lại để đức
Giê-su phối tự với các tôn giáo khác...."
Chương này chấm
dứt bằng một quảng cáo rượu ngoại
quốc của hăng BOY-LANDRY. Nhờ quảng cáo này hậu
sinh được biết khoảng 60 năm trước,
các sáng lập viên của đạo Cao Đài (đa số
là cựu viên chức chính quyền Pháp dư tiền
uống rượu ngoại) và ngay cả ông Đào Trinh
Nhất đă có thể uống các rượu sau đây:
Champaghe, Pol Roger - Cio, Cognac Adet, Réal Port, Vermount Richard.
IV. LĂO TỬ VÀ ĐẠO CAO
ĐÀI
Trong chương này, Đào
Trinh Nhất đă phân biệt được đạo
Lăo chính thống với đạo Lăo thần tiên hóa. Ông
tŕnh bày sơ lược cuộc đời Lăo Tử và
triết lư của vị này một cách am tường:
Ta phải biết phân biệt
cho rành mới được. Hai tiếng "đạo
Lăo" không có nghĩa ǵ tương đương với
những tiếng đạo Phật, đạo Giê-su v.v...
"Đạo" nghĩa là tôn giáo th́ như đạo
Giê-su, đạo Phật, đạo Hồi và nhiều
đạo khác. C̣n "đạo" nghĩa là con
đường th́ chánh là đạo Lăo, nghĩa là con
đường của Lăo Tử đă phát minh ra cho người
đời, chớ không phải là tôn giáo của Lăo
Tử... Các tôn giáo khác đều nói là có Thượng
Đế sáng tạo ra trời đất muôn vật, Lăo
Tử nói: "Có vật tự nhiên thành ra trước
trời đất và rộng răi lớn lao vô cùng,
đứng một ḿnh không bao giờ thay đổi,
lưu thông khắp mọi chỗ mà không có ǵ ngăn
trở được có thể kêu là mẹ thiên hạ, ta
không biết kêu là ǵ, cho nên tạm đặt tên là
Đạo"... Lăo Tử chỉ là một nhà triết
học chứ không phải là tiên, là thần ǵ hết, c̣n
Đạo của Lăo Tử tức là một cái triết lư
của Lăo Tử đă phát sinh ra, chớ không phải là
một nền tôn giáo, vậy các ông coi trọng đạo
Cao Đài lấy đâu mà biết Lăo Tử là Thái
Thượng Lăo Quân, và đem thờ như một nhà tôn
giáo là nghĩa làm sao?"
Tŕnh bày lư thuyết cho rơ ràng
vậy thôi, chứ Đào Trinh Nhất cũng hiểu là
đạo Cao Đài dựa trên thứ đạo
Lăo-Thần-tiên-hóa. Nhưng dù thế ông cũng chê Cao Đài
đă ấu trĩ khi dựa trên truyện Phong Thần
"là một thể ngụ ngôn (allégorie), tác giả bày ra
mọi thần quái để chiếu ứng với
việc đời mà thôi, chớ không phải là truyện
có thật." Theo truyện này, Lăo Tử tức Thái
Thượng Lăo Quân có phép thần thông quảng đại
vô cùng, hay cưỡi thanh ngươu xuống phá trận
của các yêu tiên lập ra v́ ông có bửu bối là thái
cựu độ mở ra, th́ bửu bối nào cũng
bị thâu vào đó hết. Ngoài phong thần, c̣n có
truyện "Thần tiên liệt truyện" của
Trung Hoa nữa...
Đào Trinh Nhất kết
luận: đạo Cao Đài dứt khoát không thờ cái ông
Lăo Tử triết gia rồi, c̣n dựa vào truyện
tiểu thuyết Tàu mà bảo Lăo Tử là Thái Thượng
Lăo Quân mà đem thờ th́ đúng là "quái" v́ ai
lại thờ nhân vật hư cấu... Đào Trinh
Nhất kết luận: "Nghĩ vậy cho nên
người cho đạo Cao Đài là quái giáo cũng
phải."
Chương này chấm
dứt bằng một quảng cáo cho chúng ta biết
để đổi lấy lương thực của
miền nam, miền Bắc đă mang vào bán những thành
phẩm nào:
"MỸ NGHỆ BẮC:
Bổn hiệu kính tŕnh quí khách rơ. Lúc này bổn tiệm có
rất nhiều: kiểu ghế salon, mặt nu, mặt
đá, tủ thờ, tủ kiếng bằng trắc, gơ,
cẩn chạm rất đẹp. Đồ đồng
lọc, đỏ đen, kiểu lạ, đồ thêu màu
v.v.. Xin quí vị chiếu cố bổn tiệm rất mang
ơn! ĐỨC LỢI - 105 Rue d'Espagne Saigon kế dinh Xă
Tây."
V. PHẬT THÍCH CA VÀ ĐẠO
CAO ĐÀI
Trước khi bàn về
đạo Phật, Đào Trinh Nhất có bày tỏ quan
điểm của ḿnh về tôn giáo như sau:
"Phương chi tôi nghĩ
về tôn giáo và ḷng tín ngưỡng như chém sắt
đóng đinh, đă dễ ai bảo được ai thay
đổi. Tự các ông giáo chủ, ông nào cũng tự
nhận cái tôn giáo của ḿnh lập ra là độc tôn, mà
những người theo cũng không ai chịu nh́n
đạo nào là cao hơn đạo ḿnh đă thờ
phượng. V́ sự tín ngưỡng mà lịch sử
của nhân loại đă có bao nhiêu trương vấy máu
đỏ ḷm...."
Xét về đạo Phật,
ông đă có cái hay là hiểu rằng: "Ông Phật cũng
chủ trương như Lăo Tử, nói rằng không có
Thượng Đế... Các tôn giáo khác, khinh phần xác
trọng phần hồn, làm sao tu luyện cho linh hồn
trong sạch để được lên gần
Thượng Đế. Phật đă khinh phần xác
rồi, lại khinh cả phần hồn nữa"... Ông
hiểu Thích Ca chỉ là một triết gia, và việc
thờ phụng ông này ở trong chùa chỉ là sự
tưởng niệm mà thôi. Bởi thế ông kết
luận chương này khá gọn và sắc:
"Đạo Cao Đài tin rằng có Ngọc Hoàng
Thượng Đế là trái với đạo Phật; tin
rằng linh hồn trường sanh bất tử là trái
với đạo Phật; tin rằng làm việc thiện
cầu quả báo, cũng là trái với đạo Phật.
Vậy mà các ông Cao Đài hay mượn chùa của dân gian
để làm thánh thất, và thờ Phật ở
dưới thiên nhăn, là nghĩa lư làm sao?"
VI. KHỔNG TỬ VÀ
ĐẠO CAO ĐÀI
Đoạn mở đầu
của chương này như sau:
"Đạo Cao Đài
thờ cả Khổng Tử, phối tự với ông
Giê-su, ông Lăo, ông Phật v.v... cho rằng các ông ấy
đều là "những nhà sáng lập tôn giáo, ấy là
những bực đại nhân của thế giới,
thiệt đáng để cho đời đời sùng bái,
nước nước phượng thờ" (trích
cuốn "Đại đạo vấn đáp căn
nguyên" do đạo Cao Đài xuất bản). Vậy là
đạo Cao Đài thờ ông Khổng cũng như
một nhà tôn giáo".
Ai cũng biết ở Á
Đông Khổng Tử chỉ là một bậc thánh nhân mà
thôi, và đạo của ông truyền bá chỉ là một ư
thức hệ - không phải là một tôn giáo như Thiên
Chúa Giáo hay Hồi Giáo. Đào Trinh Nhất vẫn theo
lối lập luận đă sử dụng: để
rồi chứng minh với đầy đủ dẫn
chứng rằng cái lối Cao Đài thờ phụng
như vậy th́, nếu c̣n sống, Khổng Tử
cũng phản đối.
"Trước hết
tưởng ta nên nhận rơ ràng cái tôn chỉ của
đạo Cao Đài, là có cái quan niệm thần bí về
đời người và vũ trụ. Ấy là cái phái
Đạo giáo, tức là theo phái họ Lăo. Trái lại tôn
chỉ của Khổng giáo, là chỉ có cái quan niệm
thiết thực về nhân sự và xă hội mà thôi.
Thiệt vậy, những cách thức ăn chay, cầu
cơ và mê tín những thuật pháp ly kỳ bằng
chất linh đơn, bằng rượu trường
thọ, th́ đâu có phải là bài học của ông
Khổng?"
Xét về một mặt nào
đó, đạo Cao Đài là sản phẩm của giao
lưu văn hóa quốc tế. Là đất thuộc
địa Pháp, nhưng không phải chỉ có Pháp: do vị
trí cảng quốc tế Saigon, c̣n có những luồng gió
khác. Cái quảng cáo tầm thường ở cuối
chương VI cho ta những dấu vết cụ thể:
"Đồ thêu và
đồ dentelles, của ta chế tạo ra, mà ai cũng
phải khen là khéo, chịu là đẹp, ấy là
đồ bán tại nhà ông: NGUYỄN VĂN DIỆM 9-11, rue
Paul Blanchy Saigon. Mỗi khi có người Hồng Mao và Huê
Kỳ sang du lịch bên ta, đều phải ghé vào
tiệm ấy mua đồ về làm kỷ niệm."
VII. LƯ THÁI BẠCH VÀ
ĐẠO CAO ĐÀI
Đào Trinh Nhất viết:
"Họ dạy các tín đồ rằng Lư Thái Bạch
họ tôn là Lư Giáo Tông - thay mặt cho đạo Tiên, Quan
công - tôn là Quan Thánh Đế Quân - thay mặt cho đạo
Thánh, c̣n Khương Thượng - tức Thái Công - th́ thay
mặt cho đạo Thần".
Việc bác bỏ Lư Bạch là
tiên quá dễ dàng: chỉ cần kể lại tiểu
sử Lư Bạch là đủ - thi sĩ này sống quá
gần thời đại chúng ta, sách vở ghi chép quá
đầy đủ. Sau cùng Đào Trinh Nhất đưa
thêm một lư do nặng kư: nếu bảo Lư Bạch giáng
cơ cho Cao Đài th́ sao thơ lại quá dở như
thế!
VIII. QUAN CÔNG, KHƯƠNG
THƯỢNG VÀ CAO ĐÀI
Đào Trinh Nhất phê phán
về Quan Công giản dị như sau:
"Quan vơ bất quá là một
anh vơ tướng, cầm đao lên ngựa, ra trận xông
tên, th́ những tướng có tài như thế trong
lịch sử nhân loại từ xưa biết mấy mà
kể, nào có tài thông kim bác cổ, nào có toàn trí toàn năng ǵ
đâu, mà kêu được là thánh. C̣n nói là sau khi chết,
có hiển thánh ở Ngọc Toàn Sơn, th́ đó là
người chép truyện bày đặt mà thôi lấy ǵ làm
chứng cớ. Nước Tàu ngày xưa, là nước
quân chủ độc tôn, mấy anh văn sĩ lại
phụ họa thêm vào, thấy ai chết v́ vua th́ cho là trung,
bèn bày đặt ra truyện quái dị để biểu
dương cái nghĩa trung quân ấy lên..."
C̣n Khương Thượng,
một nhân vật có thật, có tên trung chính sử Trung Hoa,
không dính dáng ǵ tới cơi tà ma thần thánh. Nếu
đời sau có tin ông này có tài phép thần thông th́ chẳng
qua do truyện Phong Thần viết dưới triều
Minh - mà Phong Thần chỉ là một tiểu thuyết hoang
đường.
IX. VÀ X. NGÓ LẠI CƠ SỞ
TÔN GIÁO CỦA ĐẠO CAO ĐÀI GỐC MÊ TÍN CỦA
ĐẠO CAO ĐÀI
Trong chương này Đào
Trinh Nhất tổng hợp các chương đă viết
để đi đến kết luận: "Nào
đạo Cao Đài có phải là tôn giáo đâu, mà có cơ
sở tôn giáo... Cao Đài là một thứ quái giáo, có
hại cho xă hội." Ông khẳng định:
"Đạo Cao Đài không có thuần túy một chút nào,
mà chỉ có mê tín mà thôi. Điều mê tín làm gốc cho
đạo Cao Đài là cách cầu cơ giáng bút."
XI. SỰ CẦU TIÊN VÀ
THẦN HỌC
Sau khi đă chứng minh
đạo Cao Đài không phải là một tôn giáo, mà
chỉ là một tổ chức mê tín, Đào Trinh Nhất
tŕnh bày các cơ sở của sự mê tín này - phải công
nhận các nhận xét của ông khá chính xác.
Trước hết ông cho
cơ sở gốc của đạo Cao Đài là sự
tin tưởng có một cơi tiên. Giữa cơi tiên ấy và cơi
trần của loài người có sự giao tiếp: Đường
Minh Hoàng du nguyệt điện, Từ Thức - Giáng
Hương, Tú Uyên - Giáng Kiều... và nếu t́nh cờ ta
gặp bạn có "căn tiên" th́ có thể
"cầu tiên" giáng bút qua người ấy... Mê tín
này như vậy đă có từ lâu ở Á Đông nhưng
chỉ là những huyền thoại làm đề tài cho
văn chương làm đẹp thêm cuộc đời, và
các cuộc "cầu tiên" đă có chỉ là "phái
nhà nho ta ngày xưa hay nhân những lúc đêm vắng canh
khuya, trăng thanh gió mát, cầu tiên lên để ngâm
vịnh chơi...."
Cơ sở cầu tiên này
phải đợi đến sau 1920, do sự tiếp thu
văn hóa Tây phương, phối hợp với Thần
học, mới tạo ra đạo Cao đài. Thần
học đây là một phái nặng về tín ngưỡng
dân gian da Trắng. Môn phái nầy tin rằng sau khi chết
đi, linh hồn con người trở về một
thế giới siêu linh, và nếu có người médium - hay
đồng cốt - và cái bàn xoay (table trournante) th́ linh
hồn có thể tiếp xúc với người. Mỗi
buổi cầu hồn của môn phái này được
tổ chức đại khái như một buổi nhờ
cô đồng bà cốt xuống cơi âm kiếm hồn
người thân mời lên nói chuyện. Phái Thần học
khá ồn ào một thời ở Tây phương, họ có
tổ chức thành hội, xuất bản nhiều sách
ở Việt Nam của các tác giả Allan Kardec, Léon, Denis.
Họ c̣n tồn tại lai rai tới 1975 nhưng vẫn
biệt lập như một chi nhánh của Tây
phương.
Theo tác giả, với
những người tạo dựng ra đạo Cao
Đài th́ lấy cơ sở cầu tiên cổ truyền
của Á Đông đem trộn với Thần học Tây
phương theo công thức tổ chức của Ṭa Thánh
Vatican, cộng thêm với mũ măng cân đai của hát
bội nữa là ra... đạo Cao Đài. Với tinh
thần duy lư hấp thụ từ Tây phương ông
Đào Trinh Nhất khó ḷng tiêu thụ nổi một thứ
đạo mà ông cho là "tả-pí-lù," một thứ
"lẩu thập cẩm" như vậy. Nhưng
với quảng đại nhân dân nghèo và thất học th́
lại khác, nhất là tại miền Nam. Bây giờ khi
đi mua mũ, mà thấy hàng mũ bán cả giầy
nữa th́ hẳn chúng ta đă ngạc nhiên. Và sẽ
ngạc nhiên đến đâu nếu tại cửa hàng
giầy mũ lại có bán... mộ bia cho người
chết! Nhưng trong sinh hoạt Saigon năm xưa th́
điều đó là thường: hai cái quảng cáo xen
kẽ các chương sách này chứng tỏ:
- trang 72, quảng cáo của
"TIỆM Mme Vve NGUYỄN CHÍ H̉A bán Hàng thêu - Ren bắc
để đi biếu và cho đám cưới. CÁC THỨ
NÓN: Đóng các thứ giày Tây - Annam đủ kiểu
Chạm mộ bia đá cẩm thạch để mả Khắc
con dấu đồng bằng đồng v.v... 83, Rue
Catinat, Saigon - Téléphone N. 789"
- Trang 78, quảng cáo của
ông Transitaire PHẠM HẠ HUYỀN: cung cấp những
dịch vụ và mặt hàng rất khác nhau: PHẠM HẠ
HUYỀN -Transitaire 36 Sabonsain - Téléphone N. 231 Adr. Télégrap TRANSITA
Saigon. - Transit en Douan, Trans- ports, Bagages, Expéditions, Dédouanement. -
Fournisseur de plantation: Manteaux, Chaeaux, Nattes, Vêtement de coolies,
Tabac du Tonkin, Poissons secs etc... Làm Đại lư bán sỉ: Hàng
Bắc, các thứ ghế kiểu Thonet vải mùng,
đồ đồng, trà bông, giày giép, giép dừa và các
tạp hóa Bắc kỳ cùng Trung kỳ."
Nếu người dân
thường Saigon - Chợ Lớn không ngạc nhiên
thắc mắc khi vào một tiệm bán nhiều thứ
khác nhau th́ có thể họ cũng không thắc mắc trước
"giáo lư tổng hợp" của Cao Đài như
những người trí thức ham t́m cái hợp lư có
hệ thống mạch lạc kiểu ông Đào Trinh
Nhất.
Các chương 12, 13, 14 và 15:
Trong 4 chương này, Đào
Trinh Nhất dùng ngay những tài liệu do chính đạo
Cao Đài phổ biến để chứng tỏ rằng
không có thần tiên nào nhập vào các vị cầu cơ
cả. Văn xuôi dạy đạo th́ lủng củng
tối tăm, thơ th́ tồi. Tŕnh độ văn
thơ và tư tưởng xét chung chính là của các con
người cầu cơ mà thôi.
Chúng tôi theo Đào Trinh Nhất
trích lại vài đoạn tiêu biểu:
1. Văn dạy đạo:
- Nói về luân hồi.
"Chẳng một
đứa hiểu đặng cơ mầu nhiệm
ấy. Thầy dậy cả kiếp luân hồi tha
đổ từ trong nơi vật chất mà ra thảo
mộc, từ thảo mộc đến thú cầm; loài
người phải chịu chuyển kiếp ngàn ngàn muôn
muôn lần mới đến địa vị nhân
phẩm. Nhân phẩm nơi thế này lại c̣n chia ra
phẩm giá mỗi hạng. Đứng bực đế
vương nơi địa cầu này, chưa
đặng vào bực chót của địa cầu 67. Trong
địa cầu 67, nhân loại cũng phân ra đẳng
cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi
địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới
"Đệ nhất cầu", "Tam thiên thế
giái" qua khỏi "Tam thiên thế giái" th́ mới
đến "Tứ đại bộ châu;" qua
"Tứ bộ đại châu" mới vào đặng
"Tam thập lục tiên" rồi phải chuyển
kiếp tu hành nữa, mới đặng lên đến
Bạch ngọc kinh là nơi đạo Phật gọi là
Niết-Bàn đó vậy.
- Nói về sự cấm
rượu:
"Thầy nói chơn thần
là Nhị xác thân, các con là khí chất (le sperme évaporé) nó bao
bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, như
trung tâm của nó là óc, nơi cửa xuất nhập
của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là Vi-hộ;
nơi ấy Hộ pháp hằng đứng mà ǵn giữ
chân tinh các con, khi luyện khí luyện Thành Đạo,
đặng hiệp với một khí, rồi khí mới
thấu đến chơn thần hiệp một, mà siêu
phàm nhập thánh, th́ óc là cội nguồn cội của khí
mà óc cũng bị huyết mạch vận động vô
chừng làm cho đến nỗi tán loạn đi th́
chơn thần thế mà an tịnh điều khiển;
thân thể phải ra ngây dại, trở lại chất thú
h́nh; mất phẩm nhơn loại rồi, c̣n mong chi
đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật nữa,
buổi loạn thần ấy để cửa trống
cho tà mị xung đột vào, giục các con làm việc
tội t́nh mà phải nhận luôn hồi muôn kiếp.
Vậy thầy cấm các con uống rượu, nghe
à." .
Đức Cao Đài cũng
giáng cơ bằng Hán Việt và Pháp ngữ. Đài Trinh
Nhất nhận xét là Hán dốt, Pháp chung chung như
những lá xăm viết sẵn ở các đền chùa.
2. Về thơ:
Cao Đài giáng cơ đa
số bằng thơ, với một số lượng
nhiều khủng khiếp, đa số bằng quốc
ngữ, một số ít là Hán văn. Tính tới lúc Đào
Trinh Nhất viết báo 1928 th́: "Đại khái thơ
nôm của ngài, trước sau có đến mấy trăm
bài, được tiếng là thơ của trời, mà
đều là sáo cũ và thậm tệ như vậy
hết; ấy là chưa nói đến tinh thần và niệm
Phật ở trong phép làm thơ ra làm ǵ...." Chúng tôi theo
Đào Trinh Nhất ghi lại hai bài tiêu biểu:
- Bài tả cái phong phú của
Đức Cao Đài ở trên trời và lo cho đời
như thế nào:
Tṛi trọi ḿnh không mới
thiệt bần, Muôn nhành sen trắng náu nương chân.
Ở nhà mượn đám mây xanh tít, Đỡ gót nhờ
con hạc trắng trần. Bô hóa người đời
gây mối đạo, Gia nhân đồ đệ dựng
nền nhân. Chừng nào đất giậy trời thay xác,
Chư Phật, Thánh, Tiên, xuống ở trần.
- Bài tả Bạch Ngọc
Kinh, tức là Thiên đường của đạo Cao
Đài:
Một ṭa thiên các ngọc làu
làu, Liền bắc cầu qua các nhóa sau. Vạn
trượng theo gài ngăn Bắc đẩu, Muôn trùng
hiệp khăm hiệp Nam Tào. Chư thần chóa mắt màu
thường đổi Liệt thánh kinh tâm phép vẫn cao
Dời đổi chớp giăng doanh đỡ nồi
Vững bền vạn kiếp chẳng hề sao.
Cắc chương 16, 17, 18,
19 và 20
Trong các chương
trước đây, Đào Trinh Nhất đă chứng minh
những mâu thuẫn, sai trái về lư thuyết của
đạo Cao Đài. Trong 5 chương kế tiếp dưới
đây, ông tố cáo những việc làm lừa bịp, bóc
lột, tùy tiện của chức sắc đạo Cao
Đài: Ông gọi đó là "những thủ đoạn
tiểu nhân của các ông đạo Cao Đài mở
đạo."
*1. Nói về sự dụ
người vào đạo:
Đào Trinh Nhất phân
biệt có ba loại người theo đạo Cao Đài:
a. Hạng v́ mê tín mà theo: đó
là loại người từ xưa vẫn tin sông có Hà Bá,
đất có Thổ Công, tin ở bói toán xin xâm...
b. Hạng v́ lợi dụng mà
theo: Đào Trinh Nhất mô tả đại lược
như sau:
"Tôi thấy rằng có
nhiều quan lớn trong đạo, trước khi
thiếu nợ, gần phải bán nhà, mà nay đủ
cả nhà lầu, xe hơi, vườn cao su có, nhà nghỉ
mát có, chỉ nhờ có đạo Cao Đài.
Tôi thấy rằng có anh
cờ bạc bán nhà, làm công mất việc, mà nay tiền
chơn bạc chứa, xuống ngựa lên xe; cũng
chỉ nhờ có Cao Đài. Tôi lại thấy biết bao
nhiêu người mượn oai Thượng Đế
để đổ tiền của người ta, lấy
tiếng Cao Đài để cầu lợi cho tự
kỷ...."
c. Hạng chỉ v́
cưỡng bách mà phải theo: Ngay cái nhan đề cũng
đáng ngạc nhiên. Lư do: Giữa hai cuộc thế
chiến chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam kỳ
rất là vững chắc đạo Cao Đài, bị
kiểm soát khá chặt chẽ, họ làm thế nào mà
cưỡng bách dân theo đạo? Vậy mà Đào Trinh
Nhất để cả mấy trang tố cáo điều
này: đối với điền chủ, họ dùng
mọi thủ đoạn tiểu nhân như thư nặc
danh tố cáo bừa băi với chính quyền Pháp và các
thủ đoạn thầm kín khác. Cùng lắm họ dùng tá
điền làm áp lực...
Nét đại cương là
như thế, nhưng ai đứng ra làm các thủ
đoạn sặc mùi mafia như vậy? Đào Trinh
Nhất có lẽ biết, nhưng ông không tố cáo đích
danh. Nhưng phía chính quyền Pháp, nhất là sở mật
thám, th́ biết rơ lắm. Theo tư liệu chúng tôi hiện
có th́ "Bố già" của đạo Cao Đài là
NGUYỄN VĂN TRƯỚC tự Tư Mát (tư liệu
đánh máy nên không rơ Tư Mat là Tư Mật hay...). Tư
Mật có một hồ sơ nặng kư nơi sở
Mật thám Nam kỳ. Căn cứ hồ sơ số N.C.36-I
của sở này th́ Tư Mật:
"là một tên cướp
nguy hiểm, chúa đảng có nhiều quyền uy với
giới vô sản lưu manh Saigon và Chợ Lớn. Đă
bị kết án 7 lần: 3 lần về tội mưu sát,
tham gia hội kín và có những hành động phá rối
trị an - 2 tội đầu mỗi tội 2 năm tù,
tội thứ ba 4 năm. Ngoài ra Tư Mật c̣n bị
bốn lần truy tố về tội mở ṣng bạc...
Trong một bầy néophytes có nếp sống lành mạnh,
Tư Mật có thể coi như Thánh Phao-Lồ của
đạo Cao Đài, sau khi từ Damas trở về,
bởi v́ những réminiscences Thiên Chúa Giáo luôn luôn ám ảnh
Lê Văn Trung... Tư Mật mang lại cho Lê Văn Trung
sự trợ lực của tất cả những
giới cặn bă của Chợ Lớn và Saigon. Bên cạnh
các nhà truyền đạo được tin ít hay
nhiều, Tư Mật và đồng bọn, đă là
cả một đạo quân tuyên truyền do sự
kiện họ đă đứng lên phục vụ cho
một thánh nghĩa."
Nhân vật đen này
được tham gia hàng ngũ lănh đạo Cao Đài.
Tài liệu của Pháp cũng khách quan ghi nhận là về
sau, Tư Mật gây tai tiếng phiền nhiễu cho
đạo. Giới lănh đạo Pháp thời đó đă
có câu nói đùa: "Không phải tín đồ Cao Đài nào
cũng là đồ lưu manh vô lại, nhưng tất
cả lưu manh vô lại Saigon, Chợ Lớn đều
theo đạo Cao Đài." Nhân vật Tư Mật
vừa hữu dụng vừa phiền nhiễu, và phía Pháp
ghi nhận Lê Văn Trung đă thở phào nhẹ nhơm khi nhân
vật này chết v́ dịch tả tháng 2-1930 tại thánh
thất Tây Ninh.
*2. Nói về sự đi quyên
tiền:
Trước hết Đào
Trinh Nhất tránh các chức sắc Cao Đài đă
để những kẻ mạo danh quyên cho đạo
lấy tiền bỏ túi (có dẫn chứng cụ
thể). Kế đó ông trách chính các chức sắc đă
quản lư, chi tiêu không phân minh số tiền khá lớn do
quyên góp và cúng dường trực tiếp:
"Ngày cuối thánh năm tây
năm ngoái, các ông thiên phong đă hội với nhau ở
ṭa thánh để xem xét tiền bạc và sổ sách. Tính
cả những số tiền của người ta cúng
bỏ vào cái tủ ở trong ṭa thánh, và tiền quyên ở
lục tỉnh, và tiền của dân Cao Miên bán lúa góp nhau
đem sang cúng, tới số 164 ngàn đồng. Số
tiền như vậy cũng đă là to lớn lắm
rồi, thế mà cũng c̣n sự ám muội ở trong
đó... V́ chuyện đó mà có một số người
trong bọn thiên phong bị mất chức, nhưng mà nhà
lầu có rồi, xe hơi có rồi, ruộng đất có
rồi, th́ nhường ngôi cho kẻ khác cũng
đặng."
Chính quyền Pháp với
mạng lưới t́nh báo khá hữu hiệu, lại cho ta
những số liệu khác. Tài liệu của họ chính
xác và chi tiết đến độ họ ghi nhận
trong 1932, Ṭa Thánh Tây Ninh đă phải dọn ra miễn phí
350.000 phần cơm người lớn, 160.000 phần
cơm trẻ con... v́ năm đó có 5.036 tín đồ
đến t́nh nguyện làm công quả. Hơn nữa,
họ c̣n sao được "bản kinh tế công
khai" của ṭa thánh từ 1-10-1931 - 29-9-1932, tóm
lược như sau: THU NHẬP: 1. Tiền cúng
dường 2.189,30 2. Tiền cúng mua hương 9.377,60 3.
Tiền cúng mua nhà in 3.119,91 4. Bán kinh và bán giáng cơ 1.848,26
5. Linh tinh 678,36 cộng: 16.713,43
Phía chi gồm 8 mục,
hết 16.497đ20. Dư ra có 316đ20. Và người Pháp
cho biết số thu nhập của những năm 33-39
sẽ c̣n sụt xuống nữa nhưng v́ họ ăn
chay và tín đồ Hậu Giang cúng lúa nên Thánh Thất Cao
Đài chỉ phải thắt lưng buộc bụng
chứ không thể ch́m xuống về phương diện
kinh tế.
*3. Nói về sự in kinh và
dịch sách cùng bán tượng.
Đào Trinh Nhất xét rằng
kinh, sách các đạo khác người ta như cho không, trái
lại Cao Đài bán cái ǵ ra cũng tính lời cao hết.
Như vậy là có sự trục lợi tín đồ.
*4. Nói về sự
cướp chùa của dân gian:
Đào Trinh Nhất tố cáo:
"Đầu tội trong
việc này là ở mấy ông chủ Quận và mấy
hương chức trong làng, có theo đạo Cao Đài,
mới dám cả gan làm sự trái phép và phạm tới
chỗ tín ngưỡng của người ta như
vậy. Họ ỷ ḿnh là quan lớn trong quận, hay
hoặc ỷ ḿnh là bực ăn trên ngồi trước
trong làng, rồi lấy trú thuật, biểu dân làng cúng kư
tên nhường chùa cho ḿnh, có khi họ lấy uy quyền,
cứ làm việc ngang, không kể ǵ hết thảy.
Đến nỗi có nhiều làng mất chùa, mấy nhà
mộ đạo Phật không có nơi chiêm bái. Họ
đă cướp chùa của người ta rồi, lại
c̣n bắt buộc người ta theo nữa, nếu không
th́ hăm dọa: nào là người ngoại đạo buôn
bán ǵ họ không thèm mua, nào là không thèm cày cấy ruộng
đất cho, nào là họ đoạn tuyệt mọi
việc quan, hôn, tang, tế với người ngoại
đạo v.v... đều là cách lấy thịt đè
người, không coi nghĩa tín giáo tự do ra ǵ
nữa."
Dĩ nhiên, cũng có nơi tín
đồ Phật giáo không chịu, khiếu nại với
nhà cầm quyền Pháp, thí dụ chùa làng Long Ḥa, Cần
Giuộc năm 1926. Chính sách của Pháp là tôn trọng
tự do tín ngưỡng của dân địa
phương, bởi thế năm 1927 họ xử bắt
Cao Đài phải trả lại chùa cho làng Long Ḥa và tới
1929 th́ họ ban hành lệnh không cho mở thêm thánh thất
Cao Đài nữa: đối với đạo Cao Đài,
từ đầu Pháp vẫn không cho phép nhưng cũng
không cấm. Không công nhận Cao Đài là tôn giáo nhưng
vẫn cho phép sinh hoạt như một thứ hiệp
hội văn hóa.
Khi bị trách cứ về
việc lấy chùa làm thánh thất này, chức sắc Cao
Đài trả lời: "...th́ trong đạo chúng tôi
cũng có thờ Phật, ai theo Phật, mà nay theo
đạo Cao Đài, cũng không hại chi tới sự
tín ngưỡng của ḿnh, v́ cũng có Phật ở
đó. C̣n như mượn cảnh chùa để làm thánh
thất, chẳng tiện lắm sao?" Lời biện
minh làm tác giả Đào Trinh Nhất bực bội lên
tiếng:
"Vậy tôi xin hỏi các
ông một lời nầy: Trong đạo các ông cũng có
th́ cả chúa Giê-su đó, các ông có dám làm ngang tàng,
mượn các nhà thờ đạo, như là choán chùa
của dân gian không?". Mà phải, đạo có thờ
cả chúa Giê-su, th́ mượn nhà thờ làm thánh thất,
cũng là có lư lắm chớ. Song các ông thử đem treo
bức thánh tượng một mắt vào đó, th́ coi
thử mấy người theo đạo Thiên Chúa, sẽ
đón rước các ông bằng cách nào. Tới đó các ông
dám làm đi coi! Chẳng qua các ông chỉ là một
phường thấy mạnh th́ co đầu, thấy
yếu th́ làm tới, tỏ ra rằng những cách cư
xử tiểu nhân mà thôi."
CHƯƠNG XXI VÀ XXII: HIỆP
THIÊN ĐÀI VÀ CỬU TRÙNG ĐÀI - CỰU LUẬT VÀ TÂN
LUẬT.
Hai chương này chỉ có
một đoạn đáng chú ư. Đó là sau khi t́m hiểu
tổ chức của Ṭa Thánh Cao Đài - Hiệp Thiên
Đài và Cửu Trùng Đài - Đào Trinh Nhất bày tỏ
lo ngại sau:
"Nếu các ông (chức
sắc) ấy tư tâm tư lợi, th́ thiệt là một
dịp bán trời để làm giàu, chỉ khổ mấy
người thành tâm v́ đạo, mà tháo mồ hôi
đổ nước mắt cho mấy kẻ dối ḿnh;
điều đó tôi lo lắm. Nếu như họ thành tâm
về đạo thiệt, rồi tóm thâu lần lần:
nào đất, nào ruộng, nào cửa nhà, nào tư sản,
gây nên như thế lực của bọn Thiên Chúa Giáo
đồ, ở Châu Âu về đời Trung Cổ, th́
khổ cho dân gian; điều đó tôi cũng lo lắm.
Song tôi được điều vững ḷng rằng
thứ đạo vô nghĩa như vậy, không sống
ở trong trời đất này được thọ
đâu."
Nếu có điều
để ghi chú thêm, th́ trong "Tân Luật" có ghi các
giáo điều các tín đồ phải tuân theo, là Ngũ
giới cấm và Tứ đại điều quy: - Ngũ
giới cấm: 1. đừng sát sinh; 2. đừng
trộm cắp; 3. đừng tà dâm; 4. đừng
rượu thịt; 5. đừng nói càn bậy. - Tứ
đại điều quy: ôn, cung, kiêm, nhượng.
Chương KẾT LUẬN:
Đào Trinh Nhất kết luận:
"ít nhiều người
Pháp ở đây, mới nghe tiếng pháo nổ,
tưởng là súng thần công, thoạt trông thấy
giấy hát rải ở đường, đă
tưởng là truyền đơn cộng sản, cho nên
nói đến Cao Đài, là họ buộc cho mấy
tiếng "Phong trào chính trị" cũng là
"phản đối người Pháp", chớ có
biết đâu rằng Cao Đài chỉ là một thứ tà
đạo, mê dân hoặc chúng mà thôi.
Cái hại của đạo
Cao Đài thật nhiều, nhưng có thể tóm tắt
lại được ba điều này là quan hệ: 1.
Ngăn trở cho sự tiến hóa. 2. Có hại cho cuộc
sinh hoạt trong dân gian. 3. Đào sâu thêm cái hố phân cách
giai cấp này với giai cấp kia".
Cuối chương này,
cũng là cuối cuốn sách "Cái Án Cao Đài,"
Đào Trinh Nhất viết như sau:
"Thôi, tôi đóng cái vai h́nh
như chưởng lư buộc tội, từ trên tới
đây là lâu lắm rồi; vậy bây giờ kết cái án
Cao Đài ra làm sao, th́ ở quan ṭa tức là quốc dân xă
hội.
V́ đạo Cao Đài có
thờ cả Khổng Tử, nên tôi muốn mượn
một chuyện của Khổng Tư. Hồi Khổng
Tử làm tướng nước Lỗ mà giết một
kẻ gian thần là Thiếu Chánh Măo, là v́ có bốn tội
nầy: 1. Tụ họp làm càn. 2. Trái ngược lẽ
phải. 3. Mê dân hoặc chúng. 4. ỷ thế lừa
người. V́ vậy mà Khổng Tử trừ Thiếu
Chánh Măo. Vậy xin quan ṭa xă hội cũng theo bốn
điều luật đó mà trừ đạo Cao
Đài."
CẢI ÁN CAO ĐÀI CỦA
BĂNG THANH
Sách in gồm 43 trang, khổ
nhỏ, không ghi nơi, năm in, nhưng có thể giả
thiết vào những năm 1929, 1930 cùng thời với
cuốn của Đào Trinh Nhất v́ đây là một
phản biện cuối "Cái Án Cao Đài." Lối
viết cho biết tác giả là một người sinh
trưởng ở miền Nam. Ngoài b́a để: in lần
thứ 2; 3000 quyển. Tác giả Băng Thanh giá 0$10.
Trong lời tựa, tác giả
muốn chứng minh đạo là cần thiết cho
đời, nhưng cái gốc làm cho cây sống và
đứng vững. Lúc này là lúc đạo suy vi, con người
chỉ nghĩ đến danh lợi "xu hướng
nhau về bề vật chất quên hết tinh
thần" nên dù tự nhận không phải là
"Người hồng nho bác sĩ, đa kiến
quảng văn, lời văn c̣n đương thô
tục, ư nghĩa chưa đạt sâu xa" tác giả
cũng phải nói nói sao cho người người
tỉnh ngộ.
Tại sao mà có quyển
"Cải Án Cao Đài?"
Từ khi đạo Cao Đài
ra đời ở Nam kỳ, đă có nhiều tiếng
thị phi trong làng văn tập. Kẻ th́ nói dị
đoan, người th́ chê quái giáo; hoặc cho là một
trường mua lợi bán danh hoặc cho là một tṛ
gạt đời phỉnh chúng" nhất là gần
đây, có quyển "Cái Án Cao Đài" công kích
đủ mọi lẽ, mà tác giả cho là không chính đáng
(điều đáng lưu ư là ông Băng Thanh không bao
giờ nhắc đến tên Đào Trinh Nhất), nên
mặc dầu tác giả không phải là người Cao
Đài, chỉ viết theo lương tâm sai khiến mà
thôi, không "có ư ǵ bênh vực nền đạo Cao
Đài" chỉ lấy cái điều sai siển của
quyển Cái án Cao Đài, ra mà cải đó thôi."
So sánh nhân tâm về đời
Thượng Cổ, Trung Cổ và nhân tâm hiện thời:
Trước khi nói về Cao
Đài, tác giả muốn luận sơ về cái nhân tâm
thời thượng cổ, trung cổ và hiện thời
ra sao:
"Ỏ buổi sơ khai,
bờ cơi c̣n hoang vu, nhân dân c̣n thưa thớt, con
người vẫn giữ được cái thiên
lương trời cho, chưa biết làm điều
dữ, chỉ biết thương yêu giúp đỡ nhau,
thiên hạ thái b́nh bốn phương phẳng lặng.
Nhưng đến đời Trung cổ th́ đạo
đức đă bắt đầu suy đồi, tánh
người trở nên giả dối, và đến
đời nay th́ "thế đạo suy vi, hai chữ
đạo đức hẳn đă tiêu tan theo mây theo gió
chẳng c̣n giữ ǵn được chút nào cả."
"Ôi ai là kẻ ưu
thời, ai là kẻ mẫn thế thử mở mắt mà
trông ra sông Hương núi Ngự rồi lại nhắm vào
nôi con Lạc cháu Hồng tưởng cũng phải
đau ḷng về nỗi cẩm tú giang san, thánh hiền miêu
vệ lẽ đáng ra xă hội ta ngày nay những bậc
thượng lưu phải t́m phương pháp ǵ cho
đặng chấn hưng phong tục, tỉnh ngộ nhân
tâm mới phải, nhưng than ôi, nào ai biết
đến."
"C̣n về việc nông
của ta ngày nay th́ mấy nhà đă có được
một đôi chân vạc, bịch nọ bịch kia,
lại trở ra dáng phú gia ông, mải đè ép con nhà nghèo khổ.
Thương thay cho mấy kẻ tá điền, phần
đă bị thiên tai, phần lại phải chủ
điền bắc sách quanh năm măn tháng, giăi nắng
dầm mưa, cuối mùa chỉ có hai bàn tay trắng...
"C̣n nói qua công nghệ và
thương măi ở xứ ta th́ người ḿnh
thường như mơ màng không biết ǵ đến
cả. Thử hỏi Trung Nam Bắc tự tay người
ḿnh đă tạo tác ra được mấy sở công
xưởng? Được mấy nhà thương
trường? Ai là người đă từng trải con
mắt quan sát ra xem đời th́ tưởng cũng đă
biết. Vào ḷn ra cúi, vùi thân nô lệ, nào là kẻ lao động
tồi tàn phải phóng tráng cháy da trong mấy nhà công
xưởng, nào là bọn du thử du thực đă
từng trút tiền muôn bạc vạn trong mấy chốn
thương trường...
"Giáng người
đời nay, sĩ đă chẳng ra sĩ, nông chẳng ra
nông, cổ không ra cổ, thế mà khi có mở miệng ra
cũng dám nói là b́nh đẳng, là tự do, là hy sinh, là bác
ái, cũng vận động thương cuộc,
đề xướng dân quyền, nay ái hữu này mai
đoàn thể khác mà rốt cuộc lại th́ thương
thay cho những người xin xỏ giữa
đường, mấy ai ngó đến... C̣n ǵ ǵ nữa
mà mong, người đời đều thế là xong
nỗi đời."
Tại làm sao mà có nền
đạo Cao Đài?
Sau khi đă tŕnh bày "hoàn
cảnh đương thời" đ̣i hỏi một
giải pháp, tác giả cho biết Cao Đài chính là giải
pháp đó.
Giải pháp này phục hồi
những giá trị đích thực của đạo lư Tam
giáo và Gia giáo v́ cho đến nay, "người theo
Phật giáo chỉ biết gơ mơ tụng kinh, mà chẳng
biết đổi ḷng, người theo đạo giáo
chỉ biết yếm quư phi phù mà không sửa tánh, kẻ
theo nho, lợi dụng danh nho để làm đường
sinh hoạt, kẻ theo Thiên Chúa th́ lại giả đem
ảnh Chúa để làm kế sinh nhai", Thượng
Đế, nếu "Người thật là một vĩ
Đại Từ Phụ chắc thời kỳ này ngài
cũng phải thôi chức Tử-Hàng để cứu
vớt sanh linh ở nơi trầm luân khổ ải.
Lấy theo cái lư mà suy th́ thời kỳ này mà nền
đạo Cao Đài xuất thế tưởng cũng
không quá đáng."
Cái án đạo Cao Đài và
Giê-su:
Trong quyển "Cái Án Cao
Đài" có cho đạo Cao Đài là bất đồng
với đức Giê-su, điều đó th́ thật sai
lầm v́:
1. Tác giả "Cái Án Cao
Đài" đă hiểu sai là Chúa Giê-su chỉ nhận có
ḿnh Ngài là Đấng Cứu Thế, c̣n sau th́ chỉ là
cứu thế giả, nên mới cho rằng đạo Cao
Đài chỉ là một cứu thế giả.
2. Đạo Cao Đài cũng
dạy về sự tương ái, khinh rẻ quyền quư
như đạo của đức Giê- su vậy, qua
mấy bài thánh ngôn được dẫn chúng.
Cái án Cao Đài và Lăo Tử:
"Tác giả quyển
"Cái án Cao Đài" chưa biết phân biệt
đức Thái Thượng Lăo Quân cùng đức Lăo
Tử, một đàng là đấng hóa sanh ra từ lúc có trời
đất, c̣n một đàng (Lăo Tử), hay Lăo danh, là
một vị Đại Tiên sanh vào thời nhà Châu. Tác
giả cũng sai lầm khi nói Đức Lăo Tử là
một nhà triết học chớ không phải là một nhà
Tôn giáo.
"Coi lại nền
đạo Cao Đài th́ Thượng Đế cũng
dạy người phải rẻ rúng xác phàm lo trau dồi
cái linh hồn được về Thiên đ́nh. Thế th́
Đức Lăo Tử là một vị giúp ích trong nền
đạo Cao Đài, nên đạo Cao Đài ngày nay cũng
có thờ đức Lăo Tử thật là phải
lắm."
Cái án Cao Đài với Phật
Thích Ca:
Ông Băng Thanh cho rằng
đạo Phật cũng công nhận có Thượng
đế, (có trời) linh hồn trường sanh bất
diệt, có quả báo luân hồi, không khác nào đạo Cao
Đài dạy người phải tin Trời, phải trau
dồi linh hồn và phải làm lành lánh dữ không phải
như tác giả quyển "Cái án Cao Đài" đă cho
rằng đạo Phật không nhận có Trời là không
đúng."
Cái án Cao Đài và Khổng
Tử:
Ông Băng Thanh phê b́nh tác
giả "Cái Án Cao Đài" là một kẻ cung
tường ngoại vọng chỉ biết sơ cái
bề ngoài chớ chưa hiểu cái bề trong thế nào nên
mới cho rằng Khổng Tử có lời công kích Lăo
Tử, trong khi Khổng Tử cũng dạy về Thiên
đạo tuy ngài không tả rơ ông Trời ra thế nào thôi,
chứ không phải Khổng Tử chỉ quan niệm
về nhân sự và xă hội. Rơ nét ra th́ dầu là Tam giáo tuy
các danh khác nhau, song cái tôn chỉ bao giờ cũng là một
cả. Nói cho cùng ra đi nữa, dầu là Tam giáo, dầu
là đạo Giê-su, dầu là Cao Đài, cũng dạy
người làm lành lánh dữ đó thôi, mà người th́
không hiểu nỡ lấy đạo này công kích đạo
kia, lấy đạo kia công kích đạo nọ. Có câu
"Thượng sĩ vô tranh, hạ sĩ háo tranh"
nếu dịch đại ra th́ Thánh Thần, Tiên Phật
bao giờ cũng đồng một ư.
"Cái Án Cao Đài" về
vấn đề Tam Trấn và Khương Thượng
Tử Nha:
"Trong cách thờ
phượng của Cao Đài, có Tam Trấn thay mặt cho
Tam giáo để trấn nhận ba nơi: Lư Thái Bạch
thay mặt cho Đạo Tiên, Giáo Tông Quan Thánh thay mặt cho
Đạo Nho, để độ rỗi phái Nam, c̣n quan Âm
thay mặt cho Đạo Phật để độ
rỗi cho phái nữ.
"Tác giả "Cái án Cao
Đài" coi việc thờ phụng này là nhảm nhí v́
những Tiên, Phật ở cơi tiên, chốn Bồng Lai, ai mà
biết được, Quan Công cũng chỉ là
người, mặc dầu là một vĩ nhân; c̣n quan Âm không
phải là Bà! Ông Băng Thanh cho rằng Đạo là v́
huyền vi, nếu chỉ lấy lư mà căi th́ không thể
hiểu được cơi Bồng Lai có sách ghi chép nên
đáng tin, Quan Công là vĩ nhân, được hiển thánh
là điều có thể tin được, c̣n quan Âm th́ có
nhiều và trải qua nhiều kiếp nữa. Chuyện
Khương Tử Nha cũng là do thiên ư, không phải
người bày đặt ra, nên không thể công kích
được."
Tông chỉ của đạo
Cao Đài:
Tác giả "Cái án Cao
Đài" coi Cao Đài không phải là một tôn giáo,
hoặc là một tôn giáo tạp nham pha trộn lung tung nhiều
đạo khác nhau.
Ông Băng Thanh bẻ lại
cho rằng Cao Đài cũng cùng một mục đích coi
Tam giáo và Gia giáo (Thiên Chúa Giáo) nên Cao Đài không khác chi các tôn
giáo trên và là một tôn giáo. C̣n về việc phối
hợp nhiều đạo là v́ mỗi đạo có
một chức năng riêng. "Đạo Phật ví
cũng như mặt Nhựt, Đạo Tiên cũng như
mặt Nguyệt, Đạo Nho cũng như Ngũ Tinh,
bộ Nhựt, Nguyệt, Tinh ba cái đó ở trên trời,
thiếu một cũng không đặng. Nho để
trị phần đời, Tiên để trị về xác
thân, c̣n Nhựt để trị về cốt tủy, đó
là cái ư cao thượng của Thượng Đế
đă sắp đặt trong nền đạo Cao Đài
vậy."
Cơ bút và Thánh ngôn của
đạo Cao Đài:
"Tác giả "Cái án Cao
Đài" phê b́nh cơ bút là huyền họa tuy cũng thú
nhận không dám quyết hẳn là có hay không. Nếu chưa
biết rơ tại sao lại công kích, không nhớ câu: "Tri
chi vi tri chi, bất tri vi bất chi" sao?
"C̣n các thánh ngôn của
Thượng Đế, các vị Thánh Thần Tiên, Phật
dạy, tác giả "Cái án Cao Đài" chê là tầm
thường, không có vấn đề ǵ, th́ v́ không hiểu
Thánh ngôn đă dạy cho mọi người nhất là
những người thường nên phải dùng lời
nói để hiểu như Thánh ngôn của Cao Đài đă
có câu: "Thà là để cho kẻ dốt nát dễ
hiểu chớ không cần những người giỏi mà
kích bác."
Lược kể những
điều đáng khen trong nền đạo Cao Đài:
"1. Đối với cá
nhân: nếu mỗi người dân theo lời dạy
của Cao Đài, ăn chay niệm Phật, đổi
dữ ra lành th́ con người sẽ trở thành hiền
lương, nền đạo Cao Đài là điều có
ích cho cá nhân.
"2. Đối với gia
đ́nh: Văn minh Tây phương truyền sang Á đông làm
suy đồi luân lư cổ truyền: "Làm cha th́ chẳng
từ, làm con th́ chẳng hiếu, vợ chồng th́
chẳng biết thương yêu, anh em th́ chẳng biết
ḥa thuận." Nếu mọi gia đ́nh đều theo
Cao Đài th́ gia đ́nh sẽ được ḥa thuận.
"3. Đối với xă
hội: Xă hội hiện nay là xă hội người
bề trên chỉ hung hiếp kẻ bề dưới,
kẻ dưới chẳng biết kỉnh hành kẻ
yếu. Giả sử cả xă hội đều là Cao
Đài, th́ xă hội sẽ được ḥa b́nh thuần
phong mỹ tục.
"4. Đối với
thế giới: Văn minh vật chất đưa
đến cạnh tranh và chiến tranh. Giả sử
cả thế giới là Cao Đài th́ sẽ dập tắt
ngay được lửa chiến tranh."
Đôi lời ngỏ cùng tác
giả cái án Cao Đài:
"Xin lỗi cùng tác giả
quyển "Cái án Cao Đài" tôi đây mà sở dĩ
cầm cây viết chép ra tập "Cái án Cao Đài"
đây là chẳng phải hiềm thù ǵ tác giả mà cũng
chẳng phải thiên vị ǵ đạo Cao Đài, chỉ
lấy cái chánh lư mà b́nh phẩm đó thôi.
"Nếu như Cao Đài là
đạo giả th́ tại sao mới xuất hiện ba
năm đă có ức triệu người theo đông
như thế, nhiều người đang làm quan bỏ
chức quan lo cho đạo! "Có phải là người
ta dại khờ ǵ, ngu xuẩn ǵ mà tác giả dám múa bút trên
quyển "Cái án Cao Đài" mục hạ vô nhân
gọi những người trong đạo là vô học
thức.
"C̣n những lời
khẩu khí xúc phạm đến các vị chức sắc,
th́ các vị này không thèm đếm xỉa nên mới không
kiện thưa đấy thôi.
"Ngoài ra, nước ta
từ xưa đến nay tuy có đạo Phật,
đạo Nho, đạo Tiên, đạo Thiên Chúa nhưng
"đó chẳng qua là đạo của nước khác
đem đến mà người ḿnh bắt chước tín
ngưỡng đó thôi, chớ chưa từng thấy có một
nền quốc đạo nào cả. May thay ngày nay
Thượng Đế đă quá thương cho ta một
cái Đạo mới chăng, lẽ đáng ra chúng ta nên quư
trọng, lấy cái đạo sùng bái lấy cái
đạo, lo vun đắp cho đạo, làm vẻ vang cho
đạo mới phải, có đâu đứng giữa
đất trời nỡ lấy cái trên của đất
trời mà công kích, sanh ra Nam Việt lấy cái đạo
của Nam Việt mà chê bai! Tác giả cũng nên tự
hối xét coi ḿnh là người thế nào?
Mấy lời xin ngỏ cùng
chư vị Thiên Phong cùng chư vị tín đồ trong
đạo Cao Đài:
Ông Băng Thanh nhận xét:
"Đạo nào lúc ban đầu cũng thường
bị công kích, nên khuyên các ông theo đạo đừng
phiền, cứ lo giữ đạo, c̣n những lời
công kích về cá nhân trong quyển "Cái án Cao Đài"
các ông cũng nên lấy đó mà xét ḿnh. Nếu quả không
có bị hàm oan th́ Trời Phật sẽ ban phúc, c̣n nếu
có ít nhiều th́ phải ăn năn hối cải."
Tổng luận: Ông Băng
Thanh thanh minh xin đừng hiểu cho ông làm việc
truyền bá mướn cho đạo Cao Đài, chẳng qua
v́ thấy chuyện bất b́nh th́ xen vô đó thôi.
Xét rằng đạo Cao
Đài gốc ở Tam giáo mà ra, cũng chỉ dạy
ăn ngay ở lành, được cả người
ngoại quốc như Cao Miên, Trung Hoa, Âu Tây, Ấn Độ
tin theo, âu cũng là một điều đáng khâm phục!
Ngoài ra mới chỉ ba năm dư mà đạo đă
thạnh vượng như thế: "Chẳng khác nào
như nguồn nước biển đông chảy tràn ra
nơi sông rạch, vậy có phải là nơi sông rạch,
vậy có phải là nơi Tạo Hóa định chăng?
Ai là người độc giả xin lượng t́nh xét
thử".
LE CAODAISME PAR LA LAURETTE ET VILMONT
NHẬN XÉT:
Tài liệu chúng tôi hiện có
chưa phải là một cuốn sách đă xuất bản,
mà là tập đánh máy hoàn chỉnh. Năm đó là 1933.
Tài liệu được hai
tác giả soạn:
- LA LAURETTE, thanh tra chính trị
sự vụ và hành chánh Nam kỳ (L'inspecteur des Affaires
politiques et Administratives de la Cochinchine), viết phần
đầu, khoảng 39 trang đánh máy khổ lớn. Ngày
viết xong là ler Janvier 1932: Như vậy tác giả đă
soạn từ 1931 trở về trước.
- VILMONT, tham biện chủ
tỉnh Tây Ninh (L'Administrateur des Services Civils - Chef de Province de
Tây Ninh), viết phần c̣n lại, dài 93 trang tổng
số 132 trang của cuốn "Le Caodaisme" Vilmont
đề ngày và nơi hoàn tất là: Tây Ninh, Le Ler Avril 1933.
Đề như vậy có nghĩa ông ta c̣n đang tại
chức ở Tây Ninh khi viết xong.
* Xét về mục lục, sách
gồm 7 chương, chia làm hai phần. Phần
đầu chỉ có 2 chương, do La Laurette viết,
phần sau gồm 5 chương của Vilmont. Chúng tôi
dịch ghi theo lối biểu và dùng từ của
người Pháp như sau:
Phần thứ nhất
của LA LAURETTE. - Lời vào đề - I. LỊCH SỬ
GIÁO PHÁI II. TR̀NH BÀY SƠ LƯỢC GIÁO LƯ. Phần thứ
hai của VILMONT. III. TỔ CHỨC CỦA GIÁO PHÁI
Ṭa Thánh: Khung cảnh - Ṭa Thánh
Vatican Cao Đài - Tài sản -Thánh thất và cơ sở
phụ thuộc - Sơ đồ điện địa.
Tổ chức hành chánh:
Tăng sử - Giáo luật - Thánh thất - Hộ pháp -
Quyền hành pháp - Hệ thống tăng sử - Nhiệm
vụ của pḥng Truyền giáo - Ủy ban kinh tài - Hội
nghị tôn giáo và ṭa án tôn giáo - Quyền lập pháp - Giáo
dục tôn giáo - việc tổ chức đào tạo
tăng lữ cấp hạ tầng - Các thánh thất -
Việc chấp hành lệnh - Cao Đài tại các tỉnh.
Tổ chức kinh tế và xă
hội ở Ṭa thánh: Tại Thánh thất và các làng phụ
cận - Dân cư cố định - các người hành
hương - Các lao động tự nguyện - Giáo
dục trẻ em - Trợ giúp y tế thương mại -
Kỹ nghệ - Ngân sách ṭa thánh năm 1932 - Khảo sát phê
phán - Sự khủng hoảng.
Tổ chức kinh tế và xă
hội ở các tỉnh
IV. VIỆC THỜ PHỤNG
Thần học và lễ nghi
chính thống: Những thần thánh phải tôn thờ - Bàn
thờ - Nghi lễ - Lịch cầu cơ - Tín đồ -
Việc hướng dẫn nhập đạo - Dấu
hiệu - Các pḥ loan chấp bút - các chức sắc - Tăng
lữ - các chức vụ - Thiên nhăn chữ Vạn - Thiên
điểu.
Sự phân hóa: Cơn Minh Lư
của Đốc Phủ Ca - Nguồn gốc - Phạm môn
- Cuộc đời Phạm Công Tắc - Tổ chức môn
phái của ông này - An ninh công cộng và tín đồ phái
Phạm Môn.
V. CÁC KHUYNH HƯỚNG
TỔNG QUÁT CỦA CAO ĐÀI.
a. Khuynh hướng
đạo lư: Ảnh hưởng của các tín
điều, các giáo lư khác nhau.
b. Khuynh hướng xă hội:
Cá nhân - Gia đ́nh - Nỗi nguy của sự muốn cá
biệt hóa.
c. Khuynh hướng chính
trị: Lịch sử - Ư định thành lập một
quốc gia trong một quốc gia - sự cố ư không tôn
trọng luật lệ - việc trường chay có
thể dẫn tới chủ nghĩa Gandhi coi như
một h́nh thức của chủ nghĩa quốc gia -
khuynh hướng chính trị vẫn tùy thuộc nơi t́nh
cảm chính trị của các chức sắc.
VI. ĐẠO CAO ĐÀI VÀ AN
NINH CÔNG CỘNG.
Nền chính trị của Cao
Đài: Ủy ban chỉ đạo chính trị của Cao
Đài - Các thành viên - Chính sách trước 1931 - Nguyễn
Ngọc Tương và Lê Ba Trang - Việc đối lập
với hộ pháp - Chính trị hiện nay.
Việc truyền giáo: Các
phương tiện - mục đích - tại Pháp tại
Đức - tại Hoa Kỳ.
Việc hành động và an
ninh công cộng: Chủ nghĩa thần bí Thần học -
cơ sở của công tŕnh - Sự cuồng tín có thể
xảy ra hoặc gây rối loạn phục vụ cho
chủ nghĩa quốc gia, hoặc gây phong trào bất
hợp tác (tẩy chay và chiếm các công sở).
Mối quan hệ có thể có
giữa Cao Đài và Cộng sản.
Lư thuyết: Đảng
Cộng Sản Đông Dương chống đạo Cao
Đài v́ các mục tiêu, phương tiện và quan niệm
sơ khởi của đạo Cao Đài.
Thực tế: H́nh như
chưa có quan hệ hoặc nỗ lực lập quan
hệ giữa Cao Đài và Cộng sản, nhưng cũng
có thể là có rồi do các tay truyền giáo và tuyên truyền
không được ủy nhiệm chính thức.
VlI. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH
QUYỀN PHÁP.
Khuynh hướng lừa
bịp - Tự do tín ngưỡng - không tra xét - không đàn
áp - cho phép hội họp xin phép trước - Tôn trọng
luật lệ - Nhưng cần coi chừng kiểm soát
thường xuyên, sẵn sàng cảnh giác.
KẾT LUẬN
Cao Đài chưa
được quyền được kể đến
(avoir droit de cité) trong tổ chức nhà nước và xă
hội Pháp Việt.
* Duyệt sơ qua các
đề mục của Mục Lục trên, chúng ta thấy
"Le Caodaisme" là một cuốn biên khảo đầy
đủ, có giá trị tham khảo về nhiều mặt.
Hai tác gia La Laurette và Vilmont đă tỏ ra có khả năng
về một đề tài như vậy.
Tài liệu tốt và phong phú
như vậy nhưng khi tóm lược tŕnh bày tư
liệu này, chúng tôi bị giới hạn bởi công tŕnh
biên khảo chung, nên:
- Chỉ chú trọng tới
những ǵ mà các sách vở báo chí Việt Ngữ từ
trước tới nay chưa bàn tới, nêu ra. Bởi
thế sẽ bỏ qua hoặc lược qua những
phần nói về tổ chức Ṭa Thánh Tây Ninh, hàng giáo
phẩm, các thơ văn do cầu cơ mà có...
- Luôn luôn tự nhắc là dù
sao cách thế nh́n cũng như mọi nhận định
của "Le Caodaisme" là của người Pháp,
của chính quyền thuộc địa Pháp.
PHÂN THỨ I do LA LAURETTE
viết
LỜI VÀO ĐỀ
Trong Lời Vào Đề, La
Laurette cho biết đạo Cao Đài bắt đầu
phổ biến từ đầu 1926, chủ yếu là
tại miền Nam Đông Dương. Trước sự
bành trướng của thứ đạo này, chính
quyền Pháp đă phản ứng theo nhiều cách khác nhau,
tùy theo pháp chế từng miền.
Tại Cao Miên, nơi mà sự
ổn định về tôn giáo là điều kiện
căn bản cho ổn định chính trị, chính
phủ Hoàng Gia Cao Miên do Pháp bảo hộ đă ban hành
sắc chỉ nghiêm cấm Cao Đài ngay từ tháng 12-1927.
Tại Nam kỳ, v́ theo
luật lệ của Pháp khá rộng răi về tự do
tư tưởng và tôn giáo, chính quyền chỉ cấm
những kiểu cách truyền đạo nào là xảo trá
lừa bịp thôi, c̣n ngoài ra chỉ kiểm soát và coi
chừng. Thái độ bao dung này đă cho phép Cao Đài phát
triển mạnh ở Nam kỳ.
La Laurette nhận xét Cao Đài
không phải là các tôn giáo cổ truyền biến hóa mà thành
- dù vay mượn nhiều ở các tôn giáo cổ truyền
- mà là một nỗ lực xây dựng một tôn giáo
mới. Và sự thành công của Cao Đài phải và
chỉ có thể cắt nghĩa bằng môi trường xă
hội đă sản sinh ra nó.
Ông nhận xét rằng
đời sống xă hội Việt Nam đă thay
đổi nhiều trong 20 năm qua (ông viết năm
1929), nhất là tại Nam kỳ, do các yếu tố sau: Sự
phổ biến tích cực nền giáo dục mới, các
phương tiện truyền thông mới, sự phổ
biến của xe hơi - dân chúng "Âu Châu hóa", và
từ nơi đây đă h́nh thành nhiều ư tưởng,
thói quen mới. Sự tiến hóa này mỗi ngày một
tăng nhanh theo tỷ lệ tốt nghiệp của các
học sinh theo TÂY HỌC. Mặt khác kinh tế Nam kỳ
ổn định, phát triển tốt: nhiều
người giàu mới xuất hiện, dư của
gửi con du học Âu Châu. Những du học sinh này khi
trở về, đóng góp thêm cho đà Âu hóa miền
đất này.
Ông viết:
"Ba biến cố ở
nước ngoài: Nhật-Nga chiến tranh, cuộc cách
mạng Tân Hợi 1911 của Trung Hoa, đệ nhất
thế chiến, đă mang lại cho phong trào Âu hóa này
một chiều hướng dứt khoát. Sự tiến hóa
tiếp tục theo thượng văn minh Tây phương,
nhưng trong mục đích chứng tỏ khả năng
cạnh tranh của người châu Á với người
châu Âu trong mọi b́nh diện và mọi lănh vực. Dân
Việt học từ nước Pháp ngôn ngữ, các
mốt, các thói tục, các tiến bộ, cách tổ
chức xă hội và kinh tế, nhưng không phải
để Pháp hóa Nam kỳ mà để Nam kỳ tiến
tới chỗ không cần tới nước Pháp".
Việc cắt tóc ngắn,
mặc Âu phục, kiến trúc nhà ở và ghế
giường thay đổi, điện và nước máy
xe hơi kéo thay ngựa, cáng... đă làm thay đổi khung
cảnh sinh hoạt con người. Lại thêm sự du
nhập những tập tục xă giao Âu châu, việc
giải phóng phụ nữ nữa. Tất cả những
cái đó tạo thành một khung cảnh sinh hoạt
mới mà các tư tưởng tín ngưỡng cũ
bắt đầu tỏ ra không thích hợp.
Nhưng dù muốn hay không th́
"Tây phương cũng đă xâm nhập vào tận bàn
thờ tổ tiên: các h́nh chụp cha mẹ mới qua
đời, đèn thờ dùng điện thay dầu
dừa, mù u... và chùa chiền đă bắt đầu
được lát đá hoa. Dĩ nhiên trong thời kỳ
đầu th́ chẳng có cậu cử, ông bác vật đi
Tây về nào dám mặc Âu phục lễ trước bàn
thờ tổ tiên. Nhưng rồi đến thời
kỳ đà Âu hóa mạnh hơn, phổ biến hơn,
tạo thêm hố ngăn cách giữa tôn giáo tín
ngưỡng cổ truyền và nếp sống mới La
Laurette nhận xét: "Đă đến lúc con người
mong ước có một tôn giáo ít tà ma quỉ quái hơn và
thích hợp với tiến bộ vật chất xă và
hội mới hơn."
Nhiều người đă
tưởng trước sự suy yếu, thiếu thích
nghi của tín ngưỡng tôn giáo cổ truyền th́ các
đạo gốc Âu như Công giáo, Tin Lành sẽ có cơ
hội bành trướng. Sự thực th́, như La Laurette
đă ngay thẳng ghi nhận: đạo Công giáo đă
bị gắn liền với cuộc xâm lăng Pháp, sự
mất nước... nên dân nghi ngờ nói chung. Bởi
thế khoảng trống tín ngưỡng đang mở ra
chờ đợi một thứ tôn giáo mới thích hợp
hơn. La Laurette viết:
"Người ta đang
chờ, nếu không phải là một Cứu thế (Messie)
hay ít ra cũng một Mahomet hay Thích Ca Mâu Ni mang lại
một tín điều (Crédo) đổi mới. Chính Lê
Văn Trung lại xuất hiện ông ta đề nghị
một áp phe và một com-bin chính trị."
CHƯƠNG I: QUÁ
TR̀NH THÀNH LẬP GIÁO PHÁI
La Laurette nhận xét rằng
Phật giáo "tại chỗ" là Phật Giáo Tiểu
thừa từ Ấn Độ, Tích Lan du nhập đă
không ḥa nhập được với tín ngưỡng phong
tục của nhân dân miền Nam. C̣n Phật Giáo Đại
thừa th́ từ lâu đă thoái hóa, tiếp thu khá nhiều
mê tín dị đoan của đạo Lăo Thần Tiên, đă
từng h́nh thành các giáo phái gây nhiều xáo trộn trong
nước, đến độ các vua Việt Nam đă
phải ban hành lệnh cấm gắt gao các tà đạo
(có bùa chú, cầu cơ).
Điều 6 cuốn VI
Luật Việt Nam xử giảo những ai truyền bá
các tà đạo như thế.
Khi Pháp mới chiếm Nam
kỳ, các sĩ phu đă nấp dưới chiêu bài Lăo giáo
lập ra các "Đạo lành" và "Minh sư"
để chống Pháp. Các đô đốc cai trị Nam
kỳ như Dupré năm 1873 rồi Lafont năm 1878
đều ra lịnh cho các thuộc viên hăy dùng luật
Việt Nam cũ mà đối phó. Riêng Lafont nhấn
mạnh là kể từ nay muốn xây chùa, nhà thờ hay
thành lập bất cứ một hiệp hội tôn giáo nào,
đều phải xin phép Soái phủ Nam kỳ... Tuy thế
Lafont lại dặn ḍ là cách hay nhất để chống
Đạo Lành và các hội kín núp dưới chiêu bài tôn giáo
là dùng t́nh báo viên trà trộn vào các hội đó - dĩ nhiên
dùng tiền để mua chuộc, mua tin tức...
Nhờ những biện pháp
cương quyết này, t́nh h́nh trở lại ổn
định. Nhưng đến năm 1920, một yếu
tố mới xuất hiện: đó là môn phái Thần linh
học do chính người Pháp du nhập, phổ biến
các sách của Allan Kardec, Flamarion, bà Bavalsky, bà Annie Besant cùng
đại tá Olcott. Môn phái này lôi cuốn các viên chức Việt
Nam đang phục vụ Pháp, thành phần trung lưu xă
hội, các điền chủ tạo ra cả một phong
trào Thần linh học trong những năm 1924-25 ở Nam
kỳ. Các nhóm công chức, thường tụ họp
ở nhà những ai có khả năng đồng cốt để
dùng bàn xoay gọi hồn, hoặc cầu cơ.
TRI PHỦ NGÔ VĂN CHIÊU
Ngay từ 1902, ông Chiêu đă
thường ch́m đắm trong những giấc mơ
thần tiên, khi tỉnh ông bị xúc động mạnh khi
tham dự một buổi bàn xoay cầu hồn ở
Thủ Dầu Một. Sau đó, khi được cử
làm đạo diện hành chánh ở Phú Quốc, ông cầu
cơ dữ hơn, thường ch́m đắm trong
những ảo ảnh ảo giác đến nỗi
thần kinh trục trặc. Đến độ La Laurette
ghi nhận vào lúc viết bài biên khảo của ḿnh, tức
khoảng 1929, ông Chiêu không c̣n khả năng công tác nữa.
Xét v́ ông nặng gánh gia đ́nh, chính quyền Pháp không nỡ
sa thải, nên điều ông về pḥng 2 Soái phủ, cho làm
những công việc lặt vặt máy móc.
Trong những lúc mơ màng,
ảo giác ông Chiêu đă pha trộn lộn xộn tất
cả những ǵ ông đă đọc: từ sách của Lăo
Tử, thần tiên truyện, kinh thánh Công giáo, Tin Lành Do Thái
giáo... để rồi một hôm cầu cơ ở Phú
Quốc, ông "thấy" Ngọc Hoàng Thượng
Đế đă nhập vào ông, xưng là Cao Đài Tiên ông,
giáng trần lần thứ ba để phổ độ
chúng sinh lần thứ ba... khi được điều
về Saigon năm 1922, ông Chiêu phổ biến trong giới
thân cận ông phát hiện của ông về đức Cao
Đài này. Mọi sự chả có ǵ quan trọng nếu
không có ông cựu cố vấn Lê Văn Trung nắm lấy
và khai thác.
LÊ VĂN TRUNG
Lê Văn Trung sinh 10.10.1875
tại Phước Lâm huyện Phước Điền
trung tỉnh Chợ Lớn, trong một gia đ́nh tiểu
nông. Thông minh và chuyên cần, ông học khá, tốt nghiệp
trường trung học Chasseloup Laubat năm 1893, và
được bổ nhiệm cũng trong năm này làm
thư kư tập sự tại dinh Thống Đốc Nam
kỳ, pḥng 2, ban phụ trách về công chánh và chợ búa.
Trong 9 năm làm thư kư tại đây ông luôn luôn
được cấp chỉ huy khen ngợi về mặt
công tác cũng như khả năng tiếp thu những
điều mới. Mặc dù được thăng
trật rất đều nhưng sự vụ hành chánh
không thỏa măn được tham vọng và lương
bổng không đủ thỏa măn nhu cầu, nên tháng 5.1905
ông xin nghỉ 4 tháng không lương để hợp tác
với ông anh Lê Văn Diêu chuyên thầu các dịch vụ
đường sắt.
Do khả năng và do sự
quen biết nhiều viên chức, ông thành công trong
địa hạt mới, nên sau nhiều lần xin
nghỉ không lương, ông Trung dứt khoát xin từ
chức thư kư đệ hạng 3 kể từ 6.3.1906.
Bây giờ ông đứng ra làm ăn riêng, tham gia mọi công
tŕnh lớn của Chợ Lớn, và nổi tiếng có uy
tín đến độ được bầu làm cố
vấn thuộc địa. Thái độ của ông trong
Hội đồng quận Hạt khéo léo đến
độ chính quyền thuộc địa xin cho ông
được thưởng Bắc đẩu Bội tinh
tháng 1.1912. Sau đó ông được Thống Đốc
Cognacq mời vào Hội đồng Tư vấn.
Nếu người Pháp
nhận thấy ông Trung là người nhiều khả
năng và trọng dụng th́ họ cũng ghi nhận ông
có tật thích danh vọng hào nhoáng, đam mê cờ bạc,
thuốc phiện và nữ sắc, và cho rằng chính tứ
đỗ tường đă làm hỏng công cuộc làm
ăn của ông. Kể từ 1920, ông thầu khoán Lê Văn
Trung bắt đầu làm ăn thua lỗ. Ông suưt đi tù
về vụ nhà máy giấy Thủ Đức khi không minh
chứng được hợp lư việc sử dụng vốn
của xí nghiệp này. Năm 1924, tất cả bất
động sản của ông trong Chợ Lớn
đều bị một tay chủ ngân hàng Ấn sai áp v́
thiếu nợ 12.000đ. Ông phải quyên góp trong gia tộc
và nhờ một người thân khác đứng ra mua
lại phần đất có mồ mả tổ tiên ḿnh.
Sau khi gần như phá
sản, Ông Trung t́m cách phục hồi bằng một
phương pháp khá phổ biến trong giới chức
sắc Cao Đài. (Có lẽ noi gương ông Mahomet trẻ
lấy góa phụ giàu Kadidja chăng?) là khai thác cảm t́nh
và đam mê các phụ nữ đứng tuổi, đa t́nh
và dĩ nhiên là đa tiền.
Ông lập gia đ́nh lần
đầu với con gái một Cố vấn tỉnh G̣
Công giàu có, và li dị bà này sau một x́-căng-đan. Sau
đó ông sống chung với cô Mười, một kỹ
nữ nổi danh vùng Chợ Lớn. Sau khi bị cô
Mười chê, ông nhân t́nh với nhiều phụ nữ
Chợ Lớn, đa số là chủ ṣng bạc,
để rồi lấy bà vợ góa một thương
gia Hoa giàu có tên là Hai Ven - đây là vợ chót của ông tính
tới 1929.
Khi viết tiểu sử Lê
văn Trung đến đây, La Laurette có trích dẫn vài báo
cáo về con ngưồi Lê Văn Trung... Nói thu tóm lại,
Trung được mô tả là một con người thông
minh, có tài ngoại giao, tổ chức, có tinh thần
thực tiễn, dám nghĩ dám làm, và dĩ nhiên là hơi ít
lương tâm.
Khi biết tới nhóm cầu
cơ của Ngô Văn Chiêu với đức Cao Đài nào
đó mới giáng trần, ông Trung tới tham dự và
thấy đây là cơ hội tốt cho việc thực
hiện mọi tham vọng lớn. Tại một buổi
cầu cơ tại Chợ-Gạo, chính Lư Thái Bạch giáng
cơ "loan báo" cho ông Trung biết sứ mệnh tôn
giáo mới. Cảm kích, ông Trung bèn thôi hút thuốc phiện
và ăn chay. Sau đó chính đức Cao Đài giáng cơ
qua ông Trung, dạy phải xây dựng một đạo
mới - đạo Cao Đài bắt đầu xuất
hiện đầu 1926. Phủ Chiêu sợ ồn ào nên
chuyển vai tṛ lănh đạo cho ông Trung kể từ tháng
4.1926.
Quảng cáo tuyên truyền khéo,
đáp ứng đúng nguyện vọng của quần
chúng, nhất là quần chúng Saigon - Cholon về nhu cầu
muốn có một tôn giáo mới - về nội dung cũng
như h́nh thức phải "hiện đại và thích
nghi với nếp sống mới" hơn - đạo
Cao Đài được tin theo đông đảo. Đă
thế ông Trung lại c̣n khôn ngoan trao các chức sắc
lớn trong đạo mới cho các nhân vật có uy tín trong
xă hội Việt nam thời đó, bất kể
đời sống cá nhân của họ có đạo
hạnh hay không... Bởi thế ủy ban lănh đạo
Cao Đài thời kỳ đă đầu gồm có
những người sau: Huyện hàm Nguyễn Ngọc
Thơ, Đốc phủ sứ Lê Bá Trang, Phủ Nguyễn
Ngọc Tương, góa phụ của huyện Hàm Xây
nhủ danh Lâm Thị Thanh, và ông Mafia, ông "bố già"
vùng Chợ Lớn Nguyễn Văn Trước, biệt
danh Tư Mật (bản đánh máy Pháp ngữ ghi là TU MAT).
1. Nguyễn Ngọc Thơ:
Theo báo cáo No. 39-p ngày 9.9.1920 của Etievant, C̣ đặc
biệt của sở Mật Thám th́ nhân vật này khá
đẹp trai, ăn mặc chải chuốt, tên thật
là Nguyễn Văn Tơ sinh ở Băi Xàu, Sóc Trăng, con
của Nguyễn Văn Học, một kỳ mục
trước đây đă tham gia hội Kín.
Thơ bắt đầu
bằng một chân tùy phái, sau chuyến sang làm y sĩ ở
Tân Định, nhân t́nh với một cô gái, sinh
được một con th́ cô này theo Thị Đông,
vợ góa của một tài phú Trung Hoa giàu có. Nhờ vốn
liếng của Thị Đông, Thơ mới lấy tên
mới là Nguyễn Ngọc Thơ, lao ra đời kinh
doanh: Thầu cho nhà nước, mở nhà máy xay... và mua
đất xây nhà ở tiện nghi ở Tân Định.
Thơ chỉ có một huy chương thôi nhờ bạn
cũ của bố xin cho, nhưng đeo cả dẫy huy
chương vốn của ông anh ruột cựu viên
chức đă chết, để lấy uy tín làm ăn. Sau
khi Thị Đông chết, Thơ tiếp tục dùng cái mă
đẹp trai của ḿnh, tán được bà Lâm Thị
Thanh, góa phụ nhan sắc đă về chiều, nhưng
giàu có, lợi tác 200.00 giạ lúa, tức 2 triệu Francs
một năm. Khi gia nhập Cao Đài, Thơ đưa
cả bà Thanh nhập theo.
2. Bà Lâm Thị Thanh:
Điền chủ giàu ở Vũng Liêm, lấy chồng
lần đầu là Huyện Hàm Xây. Sau khi ông này bị gia
nhân ám sát, bà lấy một chủ tiệm kim hoàn Thụy
Sĩ là Monnier, được 2 năm th́ ly dị. Trở
về sống với ruộng đất của ḿnh, bà làm
dư luận chú ư v́ đă dan díu với đa số các
đại diện hành chánh kế tiếp nhau tựu
chức ở Vũng Liêm trước khi sống chung
với Nguyễn Ngọc Thơ. Chính bà Thanh đă là
mạnh thường quân quan trọng cho Cao Đài: riêng cho
việc xây dựng Thánh Thất Tây Ninh, bà đă cúng
30.000đ. Bà cũng là tay truyền giáo tích cực, hoạt
động ở cả Cao Miên.
3. Đốc phủ Lê Bá Trang:
Viên chức cao cấp của chính quyền thuộc
địa Nam kỳ, về hưu từ 2 năm nay sau
một cuộc đời viên chức không có ǵ chói sáng
nhưng được khen là ngay thật. Các bạn
đồng sự ghi nhận Trang hay khoe khoang và phóng khoáng
về đạo đức, nhiều t́nh nhân và hiện
đang sống với một phụ nữ đứng
tuổi và giàu có là bà HAI AN (Hai Ân hay Hai An) cả Trang lẫn
Hai An đều được phong chức phối sư
Cao Đài.
4. Phủ Nguyễn Ngọc
Tường: Viên chức nghiêm túc và chăm chỉ. Đây
là chức sắc hiếm có tin ở đạo Cao Đài
thực sự và ráng sống đúng theo giáo lư. Hiện nay
trong nội bộ Cao Đài có phe muốn đưa ông
Tường lên thay cho ông Trung.
Ở phần sau Vilmont ghi
nhận chuyện này đă xảy ra.
5. Nguyễn Văn
Trước tự Tư Mật: Trong các chức sắc Cao
Đài th́ ông này xuất thân chúa trùm vô sản lưu manh
Saigon - Cholon. Hồ sơ số C.36-I của sở mật
thám Nam kỳ ghi: "Tay cướp nguy hiểm, đứng
đầu hội kín có nhiều quyền uy với giới
cặn bă Saigon và Cholon". Hồ sơ này cũng ghi
nhận trước bị kết án 7 lần về các
tội mưu sát (2 năm tù), liên kết với hội kín
(2 năm tù), hoạt động có hại an ninh công
cộng (4 năm)... Ngoài ra c̣n bị truy tố 4 lần v́
tội mở ṣng bạc...
La Laurette ghi nhận có thể
ví Trước như Thánh Phao-Lồ sau khi từ Damas
trở về, và sự gia nhập của Trước vào
hàng ngũ lănh đạo Cao Đài đă mang lại cho ông
Trung sự ủng hộ của tất cả giới vô
sản lưu manh Saigon-Cholon. Trước chết v́
bịnh tả Tây Ninh tháng 2.1930.
Sau khi quy tụ các phụ tá
như trên, Lê Văn Trung hiểu rằng không thể
truyền đạo rộng răi hơn mà không va và pháp
luật. Ông thấy đă đến lúc thông báo chính thức
sự thành lập Cao Đài cho nhà cầm quyền Pháp
để nếu không xin được phép th́ củng
cố trung lập hóa tác động của nhà cầm
quyền. Một bản tuyên ngôn mang chữ kư của 27
chức sắc trong tay, trong đó có 16 là viên chức ông
Trung xin yết kiến Le Fol, Thống Đốc Nam kỳ
thời đó vào hôm 7.10.26. - bản tuyên ngôn này nói
đạo mới Cao Đài chỉ là một tổng
hợp đạo lư các đạo cổ truyền
Phật, Lăo, Khổng. Ông Le Fol cho biết theo ông th́ một
tôn giáo chỉ được công nhận khi đông đảo
tín đồ và tồn tại lâu dài, nên với lời xin
của ông Trung, ông Le Fol cho biết Ông không cho phép truyền
đạo Cao Đài nhưng ông cũng chẳng cấm (M.
Le Gouverneur de la Cochinchine qui lui aurait déclaré ne pas autoriser la
propagande caodaiste mais ne s'y opposait pas non plus).
Đối với ông Trung th́
"không cấm" là đủ rồi. Ông cho in cả
ngàn bản tuyên ngôn này, kèm theo chú giải là chính quyền
Pháp đă chấp nhận Cao Đài. Và ngay cuối tháng 10,
ông tổ chức một cuộc mít tinh ồn ào sôi
động để cử hành lễ chính thức lập
Cao Đài tại chùa Từ Lâm ở G̣ Kén, Tây Ninh, sự
ồn ào kéo dài luôn trong dư luận làm Thống
Đốc Nam kỳ phải cấp báo cho các Tỉnh
trưởng biết sự xuất hiện của phong
trào Cao Đài (Công điện mật số 146-C ngày
14.11.1926), yêu cầu họ kín đáo theo dơi và thường
xuyên báo cáo mật cho Thống đốc mọi sự
việc.
Những năm 1927-1931:
Mới đầu trụ
sở của đạo Cao Đài đặt tại
một ngôi chùa ở Chợ Gạo, Chợ Lớn.
Nhưng sau đó các phật tử địa phương
đ̣i lại chùa nên ông Trung mới dùng 30.000đ của bà
phối sư Lâm Thị Thanh mua đất, xây dựng Thánh
Thất gần núi Bà Đen, Tây Ninh. La Laurette nhấn
mạnh rằng sự chọn nơi này làm Thánh Thất có
nhiều dụng ư: miền đất này không bị
lụt lội tất tiện cho tụ họp đông
người, rừng rậm nhiều khó kiểm soát,
lại sát biên giới Cao Miên, rất tiện cho ư
hướng xâm nhập đạo mới vào Miên.
Người Pháp phải công
nhận là các nhà truyền đạo Cao Đài là các tay tuyên
truyền giỏi. Họ không nói với dân Miên về giáo lư
Cao Đài quá phức tạp, mà họ lợi dụng câu
truyện thần kỳ dân gian Miên để nói rằng
vị hoàng tử cưỡi ngựa trắng trở
lại cứu vớt dân Miên đă về "tam trú"
ở Tây Ninh, nơi Thánh Thất Cao Đài. Thế là dân Miên
ùn ùn kéo sang hành hương, mang theo tiền bạc nồi
niêu thực phẩm lều bạt để ở
nhiều ngày, x́ xụp khấn vái trước con ngựa
trắng - dĩ nhiên do Cao Đài dựng lên. Một báo cáo
ngày 2-6-1927 của thanh tra mật thám Girard ghi nhận con
số 5.000 dân Miên tới hành hương - trong khi một
sư săi của Phật Giáo Miên được bí mật
gởi sang kiểm tra th́ báo cáo con số tới 30.000. Các
dân Miên hành hương này chỉ trở về sau khi đă cúng
dường và ăn hết tiền bạc, chỉ mang theo
về b́nh nước thánh giá 0đ30 một chai, một
cuốn kinh quốc ngữ và h́nh vị "Vua Tây Ninh"
chột một mắt.
T́nh h́nh tới đây là gay go
rồi. Ngay từ tháng 4.1927, đă có văn thư của
Bộ Tôn Giáo chính phủ Cao Miên nhắc nhở dân Miên
cảnh giác trước sự đe dọa tới nền
tôn giáo Miên. Tháng 6 cùng năm đến lượt chính các
sư săi lănh đạo Phật giáo Miên nhắc nhở toàn
thể tăng nilà phải loại trừ ngay các tà
thuyết trái với luật pháp và giáo lư của Thích Ca.
"Sau cùng, do đạo
dụ ngày 26-12-1927, đức vua Cao Miên, chủ tế chính
trị cũng như tôn giáo của vương quốc này,
long trọng kết án tà thuyết Cao Đài, và bẻ găy các
âm mưu tranh giành ngai vàng, thâm hiểm nấp dưới
chiêu bài tôn giáo, bằng cách khẳng định và minh
chứng ḿnh là kẻ kế vị ngai vàng hợp lệ
từ vua cha."
Vốn trung thành với hoàng
gia, dân Cao Miên ngưng hành hương tới Tây Ninh và không
theo đạo Cao Đài. Các chức sắc Cao Đài bèn
hướng nỗ lực truyền đạo vào cộng
đồng Việt kiều tại Miên lúc đó khoảng
200.000 người. Nỗ lực này bị bẻ găy khi ṭa
án Nam Vang ngày 20-5-1931 kết tội những người
đứng ra tổ chức hội họp tôn giáo bất hợp
pháp và tuyên bố giải tán Hiệp hội Cao Đài
tại Cao Miên. Mặc dù người bị kết án này
chỉ bị phạt có 100 Francs Lê Văn Trung phản
đối ầm ĩ, rêu rao là "có vụ Saint Barthélémy
Cao Đài", khiếu nại tới tận Bộ
Trưởng Bộ thuộc địa Pháp... Nhưng ǵ th́
ǵ, đạo Cao Đài cũng dứt khoát bị
đẩy ra ngoài đất Miên.
Tại Nam kỳ, thái
độ trông và chờ coi xem sao của Thống
Đốc (không cho phép nhưng cũng không cấm) đă
giúp cho đạo Cao Đài hoàn cảnh thuận lợi
để phát triển. Về pháp chế, họ dựa
trên quy chế hiệp hội văn hóa. Người kế
vị La Fol là Blanchard de la Brosse để tăng
cường kiểm soát và khi cần có thể hạn
chế sự phát triển của Cao Đài, đă quyết
định kể từ nay muốn xây cất thánh
thất, phải xin phép trước, tưởng ǵ chứ
xin phép th́ dễ thôi: Lê Văn Trung nạp hết đơn
xin này đến đơn xin khác.
Ngày 7 tháng 3-1927, Tân Thống
Đốc gửi văn thư số -C cho viên chức các
tỉnh, dặn ḍ: "Dù vẫn giữ thái độ
tuyệt đối trung lập với thứ tôn giáo phái
này, chính quyền ta phải tỏ ra hết sức thận
trọng". Trong văn thư số 161-C ngày 21-7-27, ông quy
định kể từ nay các thánh thất Cao Đài
phải:
- Báo trước cho chính
quyền 3 ngày nếu hội họp đông quá 20
người.
- Dẹp bỏ mọi
chuyện cầu hồn, phù thủy, thôi miên và mọi ám
chỉ chính trị.
Ư định của Thống
Đốc đă rơ: ông không ngăn cản đạo Cao
Đài v́ cho đó là một nỗ lực cố thanh
lọc khỏi các tôn giáo cổ truyền mọi tôn giáo
quàng xiên. Và khi ban hành qui định trên, ông cho đă là
đủ để hạn chế việc phát triển Cao
Đài sao cho vừa phải thôi. Nhưng trên thực tế
mọi sự đă không diễn ra như ông dự trù.
Trước hết là các viên chức người Việt:
Đại diện Hành Chánh, Chánh Tổng, các kỳ
mục... đă ́ ra không áp dụng các chỉ chị của
Thống Đốc. Mặt khác Lê Văn Trung và các phụ
tá đă biết lợi dụng hoàn cảnh này, ào ạt
xông ra dùng mọi phương pháp và thủ đoạn
để thâu nhập tín đồ: dụ dỗ tối
đa tá điền, đe dọa điền chủ nào
không gia nhập th́ sẽ báo tá điền đ́nh công,
bỏ đi. Họp đêm tùy tiện, xây cất thánh
thất lung tung mà không xin phép ǵ cả. Thủ tục
nhập đạo lại dễ tối đa: không có
hướng dẫn nhập môn, không tập sự, rửa tội
ǵ hết. Chỉ cần kư vào đơn nhập
đạo, đóng niên liễm, thế là trở thành tín
đồ Cao Đài và họ khá thành công nên trên tạp chí
chính thức của Cao Đài số thánh 7-1930, ông Lê Văn
Trung tuyên bố đă có 1/2 triệu tín đồ Cao Đài.
Họ ít thành công ở các
tỉnh phía đông, gần Trung kỳ hơn, có truyền
thống và nhất là nghèo và ít dân nên các tay truyền
đạo ít quan tâm. Nỗ lực chính hướng về
các tỉnh phía trung và nam: Chợ Lan với chính Lê Văn
Trung phụ trách, G̣ Công với Phủ Tường, Vĩnh
Long với bà nhà giàu Lâm Thị Thanh, Mỹ Tho do Đốc
Phủ Sứ Nguyễn Văn Ca: Ông này cương nghị
và được dân trọng nên bành trướng xuống
Cần Thơ, Rạch Giá nơi có nhiều đại
diện chủ gia nhập đạo chỉ v́ lư do
muốn ḿnh tỏ ra độc lập với chính
quyền Pháp.
Trước sự bừa
phứa này của Cao Đài, chính quyền Pháp phản
ứng. Thống Đốc Krautheimer, trong văn thư
số 7.351 ngày 30-8-1929 và trong công văn kư ngày 10-7-1929 đă
quyết định: "Cấm không cho mở hoặc xây
cất thêm thánh thất nữa v́ mọi sự cho phép là
tương đương với sự công nhận chính
thức giáo phái này... Mọi cuộc hội họp của
Cao Đài phải tuân theo luật lệ qui định
về hội họp của dân thường... Các chùa mà Cao
Đài đă lấy làm thánh thất phải được
trả lại cho tín đồ Phật giáo, các làng xă."
Như vậy chính quyền
Pháp đă từ bỏ thái độ trung lập thiện
cảm cũ. Sau cuộc nổi dậy của Cộng
Sản, Pháp lại càng nghi ngờ Cao Đài nên đạo
này khựng lại... Mặt khác nội bộ Cao Đài
lại phân hóa giữa Lê Văn Trung và Vơ Văn Thơm
ở Cần Thơ và Nguyễn Văn Ca ở Mỹ Tho, uy
quyền Lê Văn Trung lại suy sụp thêm v́ nhiều
khiếu nại kiện cáo trong hàng ngũ tín đồ.
Tại Trung kỳ: là
đất bảo hộ như Cao Miên, nên quan lại
triều đ́nh Huế dùng luật cũ đă chặn ngay
từ đầu việc truyền bá Cao Đài.
Tại Bắc kỳ: Mới
đầu việc truyền bá tương đối
thuận lợi v́ 2 lư do: 1. có nhiều liên hệ tích
cực giữa các tổ chức chính trị Bắc kỳ
và Nam kỳ. 2. Các dân Bắc đi phu cao su Nam kỳ,
hết hạn giao kèo, trở về quê mang theo những
tư tưởng tôn giáo mới.
Sau đó chính quyền Pháp lo
ngại nên Thống sứ Bắc kỳ ra lệnh chính
thức không cho du nhập cũng như bày bán tạp chí
của Cao Đài nữa.
La Laurette kết luận:
"Nói tóm lại, bị
cấm tạo Cao Miên và Bắc kỳ, bị trục
xuất tại Trung kỳ, chưa bao giờ định
xâm nhập vào Lào, Cao Đài chỉ c̣n có thể bành trướng
ở Nam kỳ. Và h́nh như ngay cả ở trong xứ Cao
Đài cũng đă bắt đầu chậm lại và
người ta có thể tiêu liệu sự thất bại
không thể tránh nổi của một công tŕnh không phù
hợp với tâm hồn người Việt. Cao Đài có được
sự thành công kỳ diệu và ngắn ngủi là do sự
quyến rũ của thứ của mới lạ, do khuynh
hướng chống đối lại chính quyền Pháp và
các cách quảng cáo ồn ào cùng các phương tiện áp
lực sử dụng trong thời kỳ đầu."
CHƯƠNG II: TR̀NH BÀY SƠ
LƯỢC GIÁO LƯ
Chương này chỉ dài có 4
trang và không đưa ra điều ǵ mới khác hơn các
sách báo Việt, bởi thế chúng tôi bỏ qua, chỉ ghi
lại nhận xét chủ chốt của La Laurette là: khó mà
bảo Cao Đài có một giáo lư theo nghĩa hiểu thông
thường của từ này.
Phần thứ hai do VILMONT
soạn thảo:
Vilmont là một quan đầu
tỉnh Tây Ninh nên hơn ai hết ông biết rơ tận chi
tiết đạo Cao Đài, nhất là về Thánh Thất
Cao Đài. Khi mô tả thánh thất này, ông ghi kỹ và rơ
như một nhà khảo cổ, để ư tới mọi
hoạt động nội bộ như ban tham mưu
của quân đội. Đọc xong phần bài viết
của ông, chúng tôi phải phục tinh thần khoa học
và viên chức mẫn cán của ông. Có thể nói hậu
sinh, cũng như các cấp chỉ huy của Vilmont,
như Thống Đốc Nam kỳ, toàn quyền Đông
Dương có thể hỏi ông này về bất cứ
điều ǵ, vật ǵ, việc ǵ ở thánh thất Cao
Đài. Nếu hỏi ông thánh thất nằm ở đâu,
ra sao ông chỉ rơ đă đành, mà c̣n nói rơ đấy
ấy mua lại của ai, bao nhiêu tiền... và tiền ai
cho nữa. Nếu hỏi ông sự chi tiêu, ông sao luôn
bản ngân sách của Ṭa Thánh Cao Đài. Hỏi ông về
giáo dục, ông tả rơ cả bàn ghế, tác phong thầy
tṛ. Hỏi ông về trang bị, ông kể từ cái máy phát
điện mua ra sao, hỏng thế nào, máy làm nước
đá kiểu ǵ, cách hoạt động...
Trong phạm vi biên khảo này,
chúng tôi sẽ lướt qua phần viết của Vilmont,
chỉ ngừng lại, trích ra những ǵ đặc
biệt đáng chú ư mà thôi, nhất là những ǵ đă
bị các sách báo Việt bàn về Cao Đài từ
trước đến nay bỏ quên bỏ qua.
1. Về công tŕnh kiến trúc:
Vilmont ghi nhận các chức
sắc Cao Đài muốn xây dựng vùng thánh thất
thật qui mô, hơn cả Ṭa Thánh Vatican nữa v́ họ
tạo dựng những khu ăn ở tập thể cho
khách hành hương, nhất là tín đồ đến lao
động công quả đă đành, mà họ c̣n cố
tạo dựng một ṿng đai dân Cao Đài quanh thánh
thất. Lúc Vilmont viết bài này, ông ghi nhận con số Cao
Đài khoảng 3000 người: một phần là dân
tại chỗ đi theo đạo, một phần là tín
đồ ở các nơi khác đến lập nghiệp.
Kế hoạch lớn nhưng tiền nong thiếu hụt
nên xét chung công tŕnh c̣n toát ra vẻ nghèo nàn tạm bợ,
dở dang. Về số dân theo Cao Đài không tăng mà
giảm, lư do không phải v́ sự trồi sụt của
ḷng tin, mà tại vùng này, đất xấu, canh tác không có
năng xuất...
2. Về tổ chức:
Vilmont nhận xét rất
đúng đa số chức sắc Cao Đài là viên
chức, cựu viên chức của chính quyền Pháp nên
họ "cọp dê" nguyên văn cách tổ chức hành
chánh của Pháp - nhưng lại đi quá lố nên
rườm rà quan liêu hơn. Và cũng v́ tốt nghiệp
trường Pháp, các chức sắc này khá am hiểu Ṭa
Thánh Vatican, nên sao chép cách tổ chức hàng giáp phẩm
Vitican, nhưng thay bằng các tên Hán Việt cầu kỳ,
thần bí. Người Pháp cứ đối chiếu 2
hệ cấp mà dịch sang Pháp văn các danh hiệu
chức sắc Cao Đài. Thí dụ: Phối sư =
Archevêque; Giáo sư = Evêque; Giáo hữu = Prêtre; Lễ sanh =
Diacre; Chánh trị sự = Sous-diacre; Phó trị sự =
Sous-diacre Adjoint; Thông sự = Transmetteur d'ordre.
Điểm đáng chú ư là khác
với Ṭa thánh Vatican, Ṭa thánh Cao Đài thực hiện
sự b́nh đẳng nam nữ: mọi chức sắc có
thể phong cho cả nam lẫn nữ, chỉ có
điều số lượng nữ ít hơn thôi. Thí
dụ: Qui định sẽ có 72 chức nam giáo sư so
với 6 nữ giáo sư, 3000 giáo hữu so với 50 nữ
giáo hữu.
Ngoại trừ khi đức
Cao Đài giáng cơ chỉ định, gọi là "thiên
phong," mọi chức sắc đều do bầu
cử. Thí dụ: Lê Sanh là do toàn thể giáo hữu bầu
lên.
Bên dưới các ông Trung,
Trường, Thơ Ca... là một danh mục các chức
sắc phụ trách các ngành ban mỗi vị có một tên
gọi riêng Vilmont ghi lại như sau: Hộ pháp: Phạm
Công Tắc; Thượng thẩm: để trống
từ khi vị tiên nhiệm chết đi; Thượng
sanh: Cao Hoài Sanh; Bảo pháp: Nguyễn Trung Hậu; Hiến
pháp: Trương Hữu Đức; Khai pháp: Trần Duy
Nghĩa; Tiếp pháp: Trương Văn Trang; Báo
đạo: để trống; Hiến đạo: Phan
Văn Tuôi; Khai đạo: Phạm Tân Bai; Tiếp
đạo: Cao Đức Trọng; Bảo thế: Lê Thiên
Phước; Hiến thế: -; Khai thế: Thái Văn Thân;
Tiếp thế: Lê Thế Vinh (V́ sự sao chép ṭa thánh
Vatican, Vilmont chỉ việc t́m hiểu rơ chức năng
của mỗi chức vị trên là t́m ngay ra từ Pháp
tương đương).
3. Về tổ chức tư
pháp:
Cơ quan tư pháp cao nhất
của Cao Đài là Ṭa Tam Giáo, dành để xét xử
chức sắc cao cấp. Từ chức giáo hữu
trở xuống th́ do cửu trùng đài thụ lư. Vilmont
nhận xét: Cửu trùng đài = Ṭa thượng thẩm
pháp, và có ghi lại một thành phần đáng chú ư như
sau:
Chủ tịch: Lê Văn Trung
- áo xanh da trời sậm, mũ cao như mũ Khổng
Tử (trong h́nh vẽ Trung Hoa). Cố Vấn: Nguyễn
Ngọc Tường - áo xanh da trời nhạt, mũ
(như Trung). Uỷ Viên Đại Diện cho Cửu Trùng
Đài + Hiệp Thiên Đài: Lê Bá Trang (Áo đỏ, mũ
như trên). Hộ Pháp: Phạm Công Tắc - y phục
cựu tướng lănh Việt Nam cổ thời, chân
đi hia, đeo kiếm. Uỷ Viên Hội Đồng Tín
Đồ: Cao Đức Trọng - áo trắng, mũ
phẳng.
Tùy theo tội lỗi đă vi
phạm, Cửu Trùng Đài có thể lên án phạt nặng
nhẹ như sau:
- Trục xuất khỏi
đạo - giáng cấp - gởi đi truyền
đạo nước ngoài - treo chức có thời hạn
- gọi về thánh thất Tây Ninh học lại
đạo... và đáng chú ư nhất là có cả mục
viết kiểm điểm, đọc trước các tín
đồ.
Vốn là người chu
đáo, Vilmont trích lại nguyên văn 4 bản án của
Cửu Trùng Đài và các ṭa án Cao Đài địa
phương năm 1932 chưa cho là đủ, ông c̣n cung
cấp một danh sách của 21 chức sắc và tín
đồ bị kết án. Danh sách này cho thấy giáo sư
Trần Khai sơ bị giáng xuống tín đồ, Lễ
Sanh bị trục xuất khỏi đại luôn.
4. Về tổ chức giáo
dục.
Dĩ nhiên Cao Đài có mở
các lớp giáo lư riêng như mọi đạo khác. Nhưng
họ lại có mở các trường thường cho con
em tín đồ. Ngoài một trường dạy nghề
(nghề mộc) hoạt động v́ thiếu trang
bị, Cao Đài có đệ đơn xin phép mở
một trường phổ thông theo quy chế tư
thục (thống đốc cho phép: Nghị định
3829 ngày 31-7-1930) tại Thánh Thất, dạy theo đúng
chương tŕnh công lập.
Trường sở th́
đơn sơ: Nhà vách gỗ lợp tranh, nhưng bàn
ghế và điều kiện vệ sinh đạt qui
định. Sĩ số năm 1931 là 274 học sinh trong đó
có 57 nữ và 11 Cao Miên. Trong số này có 87 em mồ côi
hoặc cha mẹ quá nghèo: Thánh Thất nuôi cho ăn học
và sử dụng trong ca đoàn. Năm 1932 tăng lên 417 em:
312 nam, 103 nữ và 26 đă tốt nghiệp: đỗ
bằng sơ tiểu học (Certificat d'Etudes primaires
élémentaire).
Các thầy cô dạy không
lấy lương, trong đó có 2 vị tự đài
thọ luôn tiền ăn ở. Trường cũng mở
các lớp bổ túc văn hóa từ 7 đến 9g dành cho
các tín đồ đến làm công quả ở thánh
thất mà chưa biết đọc, viết quốc
ngữ. Thanh tra ngành giáo dục báo cáo là học sinh
được học đúng chương tŕnh với các
sách giáo khoa do nhà nước qui định, học sinh
kỷ luật, lễ độ - chứng tỏ ban giáo
viên có khả năng sư phạm tốt (việc giáo
dục tại Thánh Thất do ông Phủ Tường
phụ trách).
5. Về tổ chức y
tế:
Nếu khen về Giáo dục
th́ Vilmont chê về tế. Trước hết ông cho
rằng vốn đă thiếu ăn, bây giờ lại
trường chay nên sức khỏe không tốt, dễ
bị bệnh, nhất là bệnh dịch, đặc
biệt đối với trẻ em. Về tổ chức,
thánh thất chỉ có một bệnh xá èo ọt, nhân viên
thiếu khả năng, thuốc men chẳng có ǵ.
6. Thiết bị và các
hoạt động công thương.
Khác với các đại
truyền thống cố tránh tiếp thu các kỹ thuật
Tây phương - măi về sau mới tiếp nhận
điện khí và gạch bông, Cao Đài mạnh dạn
sử dụng máy móc hiện đại. Vilmont ghi nhận
năm đó thánh thất có một máy xay thóc chạy
bằng ma-zút 16-17 CV, một nhà in, một máy làm nước
đá, một xưởng dệt.
Chính các ông Trung, Trang, Thơ
đă đi vay tiền mà mua nhà in, và dù máy móc đă cũ,
nhà in này có năng suất cao. Trái lại xưởng
dệt không thành công. Nhà máy phát điện c̣n bết
hơn: đă mua một mô-tơ chạy ma-zút với dynamo
quá cũ trong một vụ cưỡng bách phát mại,
lại thiếu bảo tŕ nên ngưng hoạt động
khá nhanh. C̣n máy làm nước đá không hoạt động
được lâu. Vilmont nói đùa: "Chắc các thần
thánh tiên của Cao Đài cho rằng uống đá lạnh
không hợp với chế độ ăn chay
chăng?". Rồi ông kết luận: Cao Đài cần
thêm cả tiền lẫn cả tinh thần thực
nghiệm nữa mới có thể "hiện đại
hóa."
7. Kinh tế tài chính.
Thánh thất không những
phải nuôi ăn toàn thể nhân viên trong địa hạt
ḿnh mà c̣n phải nuôi ăn những tín đồ
đến làm công quả. Vilmont ghi nhận năm 1932 có
7.673 tín đồ hành hương trong đó có 5.036
người ở lại làm công quả một thời
gian, thánh thất trong năm này đă phải cung cấp
350.000 phần ăn người lớn và 160.000 cho
thiếu niên và trẻ con - dù là cơm chay, cũng không
phải là không tốn.
Từ trước đến
1930, tài vụ Cao Đài được giữ bí mật. Có
lẽ v́ những lời chê trách là các chức sắc làm
giàu bất chính nhờ đạo, hai ông Phủ
Tường và đốc phủ Trang vận động
nội bộ là phải minh bạch về tài vụ.
Bởi thế Vilmont đă cung cấp cho chúng ta bản kinh
tế công khai (Thu: Cúng dường + dâng mua hương +
cúng mua nhà in + linh tinh: 16.713,43; Chi: Vật liệu xây thánh
thất + tiền chợ + lệ phí cho các nhà truyền
đạo +...: 16.479,20).
Từ năm 1932 Cao Đài
đang khựng lại nên thu nhập ít đi. Vilmont tiên
đoán một tương lai kinh tế xấu cho Thánh
Thất: hoặc họ phải giảm số nhân viên,
hoặc là phải thắt lưng buộc bụng.
8. KINH CẦU
Mới thành lập có vài ba
năm, nhưng đức Cao Đài giáng trần
"hơi nhiều" nên có các bài kinh kệ do cầu
cơ mà có rất nhiều. Vilmont có trích hai bài kinh cầu chính,
hầu như trong buổi lễ nào của Cao Đài
cũng có. Nhưng ông chỉ ghi lời, không nói rơ tín
đồ đọc lên hoặc hát như thế nào.
9. PHÁI CHƠN MINH LƯ
Vilmont nhận xét khách quan là tôn
giáo này bành trướng tới một mức độ
nhất định th́ sẽ có phân hóa. Nhưng ông ghi
nhận sự phân hóa trong các tôn giáo khác là do bất
đồng về chủ thuyết giáo lư, c̣n sự phân hóa
của Cao Đài lại phát sinh từ mâu thuẫn giữa
các cá nhân các chức sắc cao cấp. Phối sư ca, coi
địa phận Mỹ Tho, vốn đă xích mích với
Lê Văn Trung v́ Ca chê bai Trung nhiều điểm. Sau cùng Lê
Văn Trung cách chức phối sư của Ca để
trao cho bà huyện Xây tức Lâm Thị Thanh. Ca liền ly
khai, lập riêng một hệ phái gọi là "Đại
đạo Tam Kỳ Minh Lư Hội", thường
gọi là phái Chơi Minh Lư: Thánh Thất Tây Ninh bắt
đầu mất dần quyền khống chế vùng miệt
vườn.
10. PHÁI PHẠM MÔN
Khi Vilmont hoàn tất bài biên
khảo vào 1-4-1933, căn cứ vào t́nh h́nh lúc đó, ông tiên
đoán chắc rằng phái Phạm Môn của Phạm Công
Tắc sẽ tách ra thành ra một hệ phái Cao Đài
thứ ba hiếu chiến và chống Pháp, nên ông đă
xếp pháp Phạm Môn vào mục phân hóa của Cao Đài.
Vilmont không ngờ rằng sau đó chính Phạm Công Tắc
lại thắng thế trong nội bộ. Tắc lẫn
Trung, phái Phạm Môn bành trướng và thắng tại Tây
Ninh. Sau này Cao Đài có thành một giáo phái vơ trang, tự
trị trong bao nhiêu năm vùng Tây Ninh th́ cũng do Phạm
Công Tắc và phái Phạm Môn.
V́ tính cách quan trọng của
Phạm Công Tắc, Vilmont đă đúc kết các báo cáo
của cả sở cảnh sát lẫn sở Mật Thám
Nam kỳ để đưa ra một tiểu sử
Phạm Công Tắc và phái Phạm Môn dài 12 trang đánh máy
khổ lớn. Dưới đây chúng tôi chỉ ghi lại
những điểm chính.
Phạm Công Tắc sinh 16-3-1893
B́nh Lập, Tân An, con của Phạm Công Thiên và Trần
Thị Dương. Bắt đầu làm viên chức cho
ngành quan thuế kể từ 1-2-1910 và lên ngạch trật
khá nhanh, phục vụ tại nhiều nơi, Nam kỳ,
Trung kỳ, Cao Miên và được các cấp chỉ huy
khen là "một viên chức rất tốt, thông minh,
chăm chỉ, dễ bảo ham học tập và
đạo đức tốt."
Đến năm 1928, Tắc
tỏ ra là một tín đồ Cao Đài quá nhiệt thành
nên cấp lănh đạo cho thuyên chuyển ông từ Saigon
lên Nam Vang. Ông liên tiếp đệ đơn xin về
Saigon không được, bèn xin từ chức. Chính
quyền Pháp chưa xét th́ 6-1-1928, ông tự ư bỏ
nhiệm sở về Tây Ninh, mang theo đứa con gái
đang đau. Sở Mật Thám ghi nhận, mà không cắt
nghĩa, chính cái chết của đứa bé gái này đă
làm Phạm Công Tắc dứt khoát cắt đứt
với chính quyền Pháp. Tổng giám đốc quan
thuế kư quyết định sa thải Tắc (số
201, 11-4-1928) v́ tội bỏ nhiệm sở.
Nhiệt thành, có tài hùng
biện, biết dàn cảnh và tŕnh diễn Phạm Công
Tắc trở thành Hộ Pháp có quyền lực mỗi ngày
một tăng. Các t́nh báo viên của Pháp đă ḍ xét một
năm liền trước khi báo cáo Phạm Công Tắc là
nhân vật hàng đầu của Thánh Thất và kẻ thù
của bất cứ cái ǵ dính tới Pháp. Họ cũng ghi
nhận Tắc làm thơ Việt, Pháp đều
tương đối khá, tính thích phô trương, thiên
về vơ nghiệp, muốn lập công nghiệp lớn
để đời - chức Hộ Pháp chỉ là
bước chuyển tiếp của tham vọng này.
Để thực hiện tham
vọng, Phạm Công Tắc tổ chức ra phái Phạm
Môn nằm như hạt nhân trong Cao Đài. Những tín
đồ Cao Đài gia nhập phái này phải đem bán hết
tài sản, mang đến góp cho tập thể Phạm Môn,
để từ đó sống với nhau như anh em
một nhà. Lao động phân chia đồng đều,
thanh quả cũng vậy. Họ cắt máu thề giữ
kín mọi bí mật, và số lượng họ riêng ở
Tây Ninh là từ 300 đến 500 người. C̣n ở các
tỉnh: Thủ Dầu Một, Long Xuyên đều có,
nấp dưới bảng hiệu công thương
hoặc nông trại.
Các báo cáo về sau của các
cơ quan an ninh Pháp đều đồng ư ở
điểm Phạm Công Tắc là "một chúa
đảng táo bạo, một tay phiêu lưu hảo hán khôn
khéo," đă rèn luyện các tín đồ Phạm Môn
trở thành các môn đệ trung tín, sẵn sàng tuân theo
bất cứ lệnh ǵ của Tắc, kể cả
đánh tây, và có lẽ đánh Tây là chủ yếu.
Nhưng bắt Tắc không
phải dễ: phải có đủ bằng cớ, và
bằng cớ cụ thể th́ khó kiếm quá bởi v́
Tắc khôn ngoan ở chỗ tất cả những thơ
văn đề cao tranh đấu độc lập,
chống Pháp, ông đều không ghi chép, chỉ dạy
truyền khẩu cho thuộc hạ. Vilmont có trích lại
một số bài tiêu biểu, trong đó có bài Xa Thơ
được truyền bá từng nhà Cao Đài, chúng tôi ghi
lại dưới đây:
I. Xa thơ hầu găy
nước nhà nghiêng. Ai giữ biên cương đặng
vững bền. Đắp lũy Cổ Loa chưa mạt
mát. Lấp hồ Hoàn Kiếm bấy nhiêu tên. Thăng Long
mấy lượt nung hùng khí. Nam đảnh hầu toan
dựng nghiệp nhà. Sông núi dật dờ chờ tạo
hóa. Lấp sông nên đạo nước nên nhà.
II. Đả ghen ghen phản
khỏi can quan. Thuộc địa trách ai nhượng
nghiệp nhà. Trăm họ than van nơi bốc lại. Ba
kỳ uất ức phép tây tà. Xa thơ biên giấy nên
dương thất. Nam đảnh hầu thay dựng
nghiệp nhà. Ách nước nạn dân hầu đă
mảng. Hết hồi áp chế đến khi ḥa.
III. Bẩy mươi năm
ách nạn hầu qua. Dân trí mừng thay biết đạo
nhà. Ngưu đả tây âu day cáng đẩu. Khơi khuê
Đông Á trổ dui tà (Hai câu trên Vilmont ghi là ám chỉ thiên
văn có điềm là tướng tinh của Pháp đă
phai lạt và sắp biến mất).
Nam trào ti thủy tri an
quốc. Nguyên hiệp (1 chữ không đọc
được)... chư thất trí gia (Vilmont dịch là:
ngay giặc Nguyên (3) bây giờ cũng chăng làm ǵ
được).
Hiệp phó hườn châu
đành có lúc. Thân hầu công hưởng cuộc binh ḥa.
IV. Ngọc trổ nam sang
xuất thánh hiền. Lo cơ phúc nghiệp có thần tiên.
Dắt diều qua ải trời xây bóng. Dựa cọp
về non phất đóng xiềng. Lấy ấn giếng
sâu vui biết mất. Châu thành xứ rồi phước
c̣n nguyên. Cơ trời đổi về nhơn sanh khí. Ḷng
vọng trời cho thấy nhăn tiền.
Vilmont kết luận như
sau về Phạm Công Tắc và Phạm Môn:
"Theo những tin tức
hoàn toàn đáng tin cậy đă chỉ rơ th́ các tín
đồ Phạm Môn là một bầy cuồng tín có
thể theo người chăn dắt trong mọi rối
loạn và thi hành mọi mệnh lệnh của
người này, dù là táo bạo nhất. Như vậy,
Tắc và các môn đệ của ông ta phải cần
được canh chừng như là một nỗi nguy
hiểm cho an ninh chung bất cứ lúc nào."
11. CON NGƯỜI CAO ĐÀI
Vilmont nhận xét rằng
một tín đồ Cao Đài sống theo đúng giáo lư
của ḿnh th́ sẽ là một người lao động
tốt, công dân tốt nếu họ không có khuynh hướng
cá biệt hóa. Họ tách biệt với quần chúng bằng
y phục trắng, kiểu khăn mũ, để tóc,
để râu, cho tới lối ăn trường chay.
Chưa thể theo đúng chỉ thị của Ṭa Thánh Cao
Đài, họ ngưng mọi liên hệ quan hôn tang tế
coi thường mọi luật lệ của chính quyền
Pháp, chỉ biết có luật lệ của đạo
ḿnh.
Ăn mặc, cư xử không
giống ai, như vậy, nên đi đến đâu
họ cũng bị mọi người ngó: họ lại
càng khoái v́ tự cho ḿnh thuộc về một tôn giáo
thực sự và đôi khi bí mật. Khuynh hướng này
chắc chắn sẽ đưa họ tới tổ
chức hội kín mà Phạm Môn là một biểu lộ
điển h́nh. Nhất là xét về nhân sự theo
đạo 1927-1928, có khá nhiều địch thủ
của nền thuộc địa Pháp: những tay chủ
trương lập hiến, cách mạng dân tộc, những
kẻ bất măn, những tội phạm chính trị và
cả h́nh sự nữa. Hồi đó người Pháp
đă phải thốt ra câu nói đùa: "Không phải
tất cả các tín đồ Cao Đài là lưu manh,
nhưng tất cả lưu manh đều đă theo
đạo Cao Đài" (Si tous les Caodaiste ne sont pas des
fripouille toute la fripuolle est passée au Cao Đài!).
Không phải chỉ có khía
cạnh tôn giáo quyến rũ họ mà thôi, c̣n một
yếu tố khác lôi cuốn họ đến với Cao
Đài: Qua những bài thơ ư nghĩa nước tôi, Cao
Đài đă khơi dậy trong ḷng họ tinh thần bài
ngoại, thức tỉnh ḷng yêu nước, và từ
đó đi tới chỗ chống Pháp và chỉ c̣n một
bước - không phải chỉ chống mà c̣n muốn
trục xuất Pháp và cả nền văn hóa Pháp ra
khỏi phần đất này. Bao giờ họ
bước tới bước quyết định này th́
chưa biết, nhưng Vilmont tạm kết luận. Chính
quyền Pháp phải thận trọng, thủ kỹ
tối đa.
Về chính trị, Vilmont phân
tích khá kỹ thành phần chức sắc lănh đạo và
cho biết có 2 khuynh hướng rơ nét: khuynh hướng
thân Pháp không muốn đạo xen vào chính trị và khuynh
hướng dùng đạo đổi đời - khuynh
hướng sau này có lănh tụ là Lê Văn Trung và Phạm
Công Tắc, dù sau này Trung có từ chức Giáo chủ th́
cũng chỉ là thủ đoạn chờ thời trong
bóng tối.
12. Vấn đề truyền
đạo ở nước ngoài.
- Tại Pháp
Việc truyền đạo
Cao Đài tại Pháp cũng có những bất ngờ ngoài
ṿng kiểm soát của an ninh Pháp. Năm 1928 thể thao gia
Gabriel Abadie tuyên bố sẽ đi xe hơi từ Paris
đến Saigon. Abadie vốn là lục sự tại
Đông Dương trước đây và các cấp chỉ
huy cũ của ông đă nhận xét là ông hoạt
động trên sân đá banh Saigon hơn là trong ṭa án. Sau khi
vượt rất nhiều khó khăn được báo
chí ca ngợi một cách xứng đáng, ông tới
được Téhéran. Kỹ thuật chế tạo xe và
t́nh trạng đương thời đó không cho phép ông
tiếp tục hành tŕnh: năm 1930 ông đành trở về
Pháp bằng đường biển. Đùng một cái
năm 1932 ông tuyên bố là tín đồ Cao Đài và là đại
diện của đạo này ở Paris. Và ông nói thật và
làm thật. Sự hợp tác của Abadie với Tây Ninh
chỉ bế tắc khi Abadie cần quá nhiều tiền.
Mới đầu ông cần 20.000 Frs, Tây Ninh chi
được 15.000. Nhưng khi Abadie cần 60.000 Frs
để biến một khách sạn thành thánh thất Cao
Đài th́ Tây Ninh chịu không đài thọ nổi. Abadie
ch́m vào bóng tối của lăng quên.
Cao Đài dĩ nhiên có các
tiếp xúc với các hiệp hội Thần Linh học Âu
Châu và cả liên đoàn Pháp chống áp bức thuộc
địa và chủ nghĩa đế quốc. Vilmont nghi
nhận là Cao Đài không phổ biến được
ở Âu Châu v́ không ai tiêu thụ được thứ
"documentation polyglotte" của Cao Đài.
- Tại Đức
Trong những thánh đầu
năm 1931, một nhóm du khách Đức tàu ghé bến Saigon
ba ngày, đă lên thăm ṭa thánh Tây Ninh ghi chú và chụp h́nh.
Sau đó, báo Beriner Illustriete Zeitung số 21-6-1931 có
đăng một bài báo của W. Bossard nhan đề:
"Giáo phái kỳ lạ nhất thế giới" kèm 6
bức h́nh, trong đó có một bức chụp Lê Văn
Trung. Bài báo ngắn, chỉ giới thiệu sơ
lược Cao Đài.
Ngoài ra Lê Văn Trung cũng
trao đổi thư từ với giáo phái Gnostique của
Đức. Theo Vilmont, quan hệ này chẳng đi tới
đâu v́ giáo phái Gnostique chủ trương cái ǵ cũng
chung hết, kêu cả vợ trong khi Cao Đài tôn trọng
quyền sở hữu và hôn nhân.
- Tại USA
Cao Đài rất muốn
truyền bá ở Hoa Kỳ, nhưng vài nỗ lực
đặt đại diện ở Chicago đă không thành
công.
13. Cao Đài và Cộng
sản.
Vilmont để ra hơn 2
trang bàn về vấn đề này. Sau khi phân tích,
đối chiếu, ông kết luận Cao Đài và Cộng
sản không thể đi đôi với nhau. Nếu có
chăng, chỉ là chuyện cục bộ, giới hạn,
và cũng chỉ có với điều kiện phía Cộng
sản đặt vấn đề yêu nước lên trên
giáo lư Cao Đài và chủ nghĩa Mác Lênin.
MỘT VÀI GHI NHẬN
1. Lối nh́n và đánh giá
của Đào Trinh Nhất và Băng Thanh.
Đào Trinh Nhất chỉ
đứng trên b́nh diện lư thuyết mà t́m hiểu Cao
Đài, và dựa vào lư sự mà phê phán kết án Cao Đài là
"tà đạo," "mê tín, nhảm nhí, bịp
bợm."
Đào Trinh Nhất không coi Cao
Đài là đạo mà cũng không nghĩ rằng nó có ư
đồ, vai tṛ ǵ về chính trị. Tóm lại ông tỏ
ra khinh bỉ đạo này về mặt nhận thức,
nhưng về hậu quả xă hội, ông cho rằng nó có
thể gây nhiều điều tai hại lớn nhỏ, v́
thế ông kêu gọi xă hội phế bỏ nó. Những
hạn chế trong lối nh́n của Đào Trinh Nhất,
không phải chỉ ở tại lựa chọn t́m
hiểu vấn đề trên b́nh diện lư thuyết, mà c̣n
bởi thói quen của người Việt Nam, Á Đông xét
nét việc công, đời công dựa vào đời tư
về mặt đạo đức, khi đời tư
đó không liên hệ đến đời công. Việc
người ta dan díu có hai ba vợ, hay lấy vợ
đầm v.v... đâu có thể là một sự kiện
để vin vào đó mà đánh giá đường lối,
việc làm của một người ngoài xă hội?
Nếu chỉ đứng trên
b́nh diện lư thuyết, phải nhận Đào Trinh
Nhất lư luận chặt chẽ - hợp lư có khả
năng thuyết phục người đọc, nhất
là người đọc trí thức duy lư. Nhưng nếu
vấn đề không phải chỉ là t́m hiểu về mặt
nhận thức lư thuyết thuần túy, mà c̣n là t́m hiểu
xem tại sao có đạo đó vào thời điểm
đó, ở nơi đó mà không vào thời điểm khác
ở nơi khác, có đáp ứng một đ̣i hỏi nhu
cầu ǵ không đối với đại chúng và đó là
nhu cầu ǵ th́ viên tượng t́m hiểu đánh giá
lại xoay vào một hướng khác.
Ngay trên b́nh diện nhận
thức, nếu hiểu tôn giáo chỉ trong khuôn khổ cái
có lư, hợp lư th́ phải chăng chính là đă phủ
nhận tôn giáo với tư cách là tôn giáo, vượt cái
hợp lư, tiến tới cái siêu lư, không hẳn là cái phi lư,
nhưng là cái lư mở rộng, của một thái độ
sống thực, không phải chỉ thuần túy là một
thái độ nhận thức bằng lư luận. Không
phải là điều vô t́nh khi chúng tôi tŕnh bày quan
điểm của Đào Trinh Nhất song song với
việc giới thiệu các quảng cáo in xen kẽ các
chương sách. Có thể giả thiết Đào Trinh Nhất
không thấy được ư nghĩa của toàn thể các
quảng cáo v́ ông không lưu ư, cho đó chỉ là chuyện
quảng cáo, nhưng nếu bây giờ chúng ta đọc các
quảng cáo đó như thể đọc một thứ
chữ là tín hiệu mang một ư nghĩ nào đó, th́
quả thật những quảng cáo trong trang sách đă phô
bày một sự thực trái hẳn với sự thực
chỉ có thực trong lư luận của những ḍng
chữ trên trang sách. Người dân vào các cửa tiệm
bán tạp hóa bầy đủ thứ đồ dùng, xem ra
không liên hệ đến nhau và c̣n trái ngược nhau (cái
để dùng lúc sống, và cái để dùng lúc chết)
không hề cảm nhận thấy tính cách mâu thuẫn
về công dụng của những đồ dùng cũng
như khi họ vào Thánh Thất thờ phụng nhiều
đối tượng của nhiều tôn giáo khác nhau.
Đó là hai thái độ sống thực có một ư
nghĩa, dựa trên một quan niệm nhận thức,
đă thoát khỏi lối nh́n duy lư của ông Đào Trinh
Nhất.
Lối nh́n của ông Băng
Thanh nếu xét trên b́nh diện lư luận thuần lư th́ không
thể so địch với lập luận chặt
chẽ, hợp lư của ông Đào Trinh Nhất; nhưng
Băng Thanh không đứng trên b́nh diện nhận
thức thuần túy của người trí thức duy lư, mà
đứng trên b́nh diện thái độ sống tôn giáo
của người thường, b́nh dân, cảm nhận
tôn giáo vượt khỏi cái lư bao gồm cái huyền vi
cũng là một sự thực không cần tranh luận,
coi mọi tôn giáo đều tốt. Do đó, lối nh́n của
Băng Thanh không thuyết phục được
người đọc b́nh dân, tầm thường.
Đó là về lư luận và
quan điểm nh́n trực tiếp liên quan đến
đạo giáo. Có hai điều rất đáng lưu ư
trong cuốn sách của ông Băng Thanh là ông cho thấy hoàn
cảnh xă hội miền Nam thời kỳ này về chính
trị, xă hội, đạo đức là thế nào
để đạo Cao Đài ra đời đáp ứng
lại đ̣i hỏi của hoàn cảnh trên. Ngoài ra ông nêu
lên điểm Cao Đài là một đạo do
người Việt Nam lập ra và coi đó là một
niềm hănh diện dân tộc mặc dầu Cao Đài
chỉ phối hợp các đạo đă du nhập
từ bên ngoài vào miền Nam, vẫn có cả những
người tin theo là người nước ngoài như
Ấn Độ, Cao Miên, Trung Hoa, Âu Châu...
2. Lối nh́n của La Laurette
và Vilmont.
Trước hết hai tác
giả này v́ là người Âu Châu nên không bị ám ảnh
bởi lối nh́n đánh giá dựa vào đ̣i hỏi cá nhân
kể trên. Họ không chú ư t́m hiểu đạo đó là
ǵ, thực chất là ǵ trên lư thuyết, mà là t́m hiểu
tại sao có nó, từ đâu mà có, có như thế nào,
nghĩa là xét tới những điều kiện hoàn
cảnh xă hội qui định một sự kiện
sản sinh, diễn tiến, phát triển phân hóa hay suy tàn.
Lối nh́n này, bây giờ quá thường, nhưng vào
hồi 1929-1930, chưa hẳn là thông dụng, nhất là
đối với trí thức Việt Nam.
Nhiều năm sau khi lên án Cao
Đài, ông Đào Trinh Nhất chắc hẳn không khỏi
bực bội khi thấy một cái đạo "ba
láp" như vậy, vẫn phát triển mạnh và có
nhiều người đàng hoàng trí thức hẳn ḥi theo
đạo. Sự kiện này cho thấy vấn đề
đặt ra không phải là đạo sai hay đúng,
hợp lư hay không hợp lư mà là tại sao có nhiều
người theo đạo đó. Hai tác giả Pháp đă
nh́n vấn đề theo hướng sau. Họ là những
người cầm quyền. Giới cầm quyền
thường có xu hướng nh́n những đối
tượng theo các đường lối đôi khi
chỉ là định kiến và cấp thừa hành của
họ càng khó tránh việc phản ảnh báo cáo theo
những định kiến đó. Điều này dẫn
đến nh́n sai đánh giá sai và dĩ nhiên lănh đạo
cũng phải sai. Nhưng nếu người cầm
quyền có óc thực tế không để cho ḿnh bị lôi
cuốn chi phối bởi các lư thuyết, đường
lối phe phái, định kiến, và muốn biết
sự thực để cai trị cho tốt, th́
trước hết họ sẽ bắt đầu
bằng một công cuộc nghiên cứu khoa học. Tài
liệu của La Laurette và Vilmont không phải là một
bản báo cáo, nhưng là một phân tách nghiên cứu khoa
học dựa vào việc điều tra, đặc
biệt của công an, nhưng không phải nhằm sưu
tầm những ư nghĩ, ư đồ dư luận mà
chủ yếu là những sự kiện vật chất,
khác với ông Đào Trinh Nhất có lẽ chỉ ngồi
ở Saigon đọc sách báo hoặc thăm ḍ dư
luận nghe tin đồn...
Từ những sự kiện
cụ thể, vật chất thu lượm
được, họ mới phác họa những giải
thích có tính chất một điều tra nghiên cứu xă
hội học.
Chính họ đă tŕnh bày
lề lối làm việc của họ trong tài liệu
"Từ bỏ việc nghiên bản văn để t́m
hiểu tầm quan trọng của việc thờ cúng trong
Cao Đài; không đi vào bất cứ một b́nh luận
nào về giáo lư trước khi đă quan sát với óc phê
phán những biểu lộ về nghi lễ ở Ṭa Thánh.
Không một định nghĩa nào có giá trị bằng
chính việc quan sát trực tiếp các sự kiện...
(trang 75). "Kết luận này rút ra từ phương
pháp thực nghiệm, sau một quá tŕnh tiếp xúc lâu dài
với thực tế hàng ngày của đời sống và
các thực tại, xa rời một vấn đề liên
quan đến giáo lư hay quốc gia"... (tr. 132)
Sau khi quan sát các sự kiện
(những biểu lộ nghi lễ, tổ chức, lư
lịch từng người lănh đạo, từng
thời kỳ) họ đi đến kết luận:
Đây là một hiện tượng phức tạp: chính
trị có, tôn giáo có, mê tín dị đoan có, kinh doanh bịp
bợm cũng có... nếu muốn xác định đây là
phục hưng tôn giáo, hay một âm mưu chính trị,
một mưu đồ lừa bịp, một hội kín
v.v... tất cả đều có thể đúng, v́ đây là
một "hiện tượng xă hội tâm lư phức
tạp về nguồn gốc, nguyên nhân và các cách biểu
lộ, xu hướng" (tr.4), một hiện
tượng thuần túy Nam kỳ. Xác định như
thế là tránh được cái nh́n đơn giản
một chiều và biện pháp đề ra là không thể
dùng bạo lực hay pháp luật mà giải quyết
được vấn đề như đă có thể làm
ở Cao Miên, hay Trung, Bắc kỳ. Không thể cấm,
cũng không thể cho phép chỉ c̣n một cách là phải
theo dơi thật sát, cố gắng t́m hiểu để tôn
trọng cái ǵ cần tôn trọng (người thành thực
theo đạo v́ đạo, bất chấp đạo có
chủ trương ǵ - theo đúng tinh thần tự do Tây
phương) và để lợi dụng cái ǵ có thể
lợi dụng được, sau cùng để tiêu
diệt cái ǵ có xu hướng chống Pháp.
Với một lối nh́n khoa
học thiên về t́m hiểu những yếu tố hoàn
cảnh qui định sự sát sinh, h́nh thành một
hiện tượng như thế, hẳn người sau
khó có thể làm hơn hai tác giả Pháp này v́ họ nắm
trong tay nhiều tài liệu cụ thể dồi dào, riêng
tư, đương thời. Qua bản phân tách nghiên
cứu của La Laurette và Vilmont, chúng tôi ghi nhận mấy
điểm sau đây:
I. Về nguồn gốc:
1. Tài liệu cho thấy Cao
Đài không phải do Pháp tạo ra hay xúi giục, chỉ
đạo chủ động như một dư luận
giải thích quen thuộc dựa vào sự kiện nhiều
người lập ra Cao Đài là viên chức Pháp, thậm
chí viên chức pḥng nh́ rồi suy diễn là Pháp chủ
động. Trong bài, hai tác giả đă vạch ra rất
nhiều thủ đoạn của những người
cầm đầu Cao Đài luôn luôn đặt nhà cầm
quyền Pháp vào thế kẹt, bị động
(đứng trước sự việc đă rồi)
hoặc bắt buộc phải dè dặt v́ biết rơ
những móc nối liên hệ của Cao Đài với
nhiều nhân vật có uy tín quyền thế trong Hành Pháp và
Luật Pháp, với các tổ chức bảo vệ nhân
quyền ở Pháp... những người hoặc tổ
chức này luôn luôn có thể lên tiếng binh vực họ.
Chẳng hạn một buổi lễ ra mắt, mời nhà
cầm quyền đến dự, không thể không đi,
đi rồi Cao Đài rỉ tai là Tây nh́n nhận, cho phép,
mặc dầu chẳng có phép ǵ cả.
Hai tác giả chỉ nêu hai
sự kiện khách quan về phía Pháp tác động vào
việc ra đời của Cao Đài: chế độ
thuộc địa bước vào giai đoạn khai phá
phát triển, dẫn tới hiện tượng giao lưu
văn hóa: sự du nhập các sách báo của phái Spiritisme
phương Tây.
Do đó, dựa vào tài liệu
của La Laurette và Vilmont, có thể nói Cao Đài là một
đạo do người Việt Nam ở miền Nam sáng
lập ra và chủ động trong việc điều hành
tổ chức thời kỳ đầu.
2. Tài liệu phân tách
đưa ra một giải thích xă hội học cho
thấy tại sao Cao Đài chỉ có thể ra đời
ở vùng Saigon, Cholon, và tại sao Cao Đài chọn Tây Ninh
làm khu vực Ṭa Thánh. Ngoài ra cũng cho thấy khi nghiên
cứu con người ở miền Nam không thể
đơn giản coi một biểu lộ nào đó
chỉ là thế này, thế nọ mà thực ra gồm
nhiều mặt xen kẽ, lẫn lộn, nhưng vẫn liên
hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời
được để có thể xác định một
cách đơn giản, một chiều.
II. Về nghĩa:
Bản nghiên cứu đưa
ra hai ư nghĩa chính:
1. Về xă hội: Đạo
Cao Đài ra đời nhằm đáp lại những khát
vọng xă hội (t́m cho đời sống một ư
nghĩa do các ư thức hệ hay tôn giáo thỏa măn; và
một hội nhập xă hội theo một nếp sống
cộng đồng nào đó) từ một hoàn cảnh
trống rỗng hay thiếu xót mà các tôn giáo, ư thức
hệ hiện có không đáp ứng được
đầy đủ.
2. Về chính trị:
Đạo Cao Đài cũng nhằm đáp lại những
khát vọng quốc gia (độc lập dân tộc, làm
chủ về mọi mặt cuộc đời của ḿnh
trên đất nước ḿnh). Trong hoàn cảnh thuộc
địa Cao Đài nhằm tạo ra "một quốc
gia trong một quốc gia," dựa vào Tây mà chống Tây.
Hai tác giả cho thấy những biểu lộ của Cao
Đài về mặt này có nhiều xu hướng, nhiều
mức độ. Từ xu hướng âm mưu chống
Pháp rơ rệt và quyết liệt như của Phạm Công
Tắc, đến những biểu lộ nhẹ nhàng, mang
tính chất thỏa măn tâm lư của kẻ muốn có
quyền hay làm chủ trong hoàn cảnh lệ thuộc
người ngoài.
Chúng ta thử tưởng
tượng những người chỉ là viên chức
cấp dưới vô danh trong bộ máy hành chánh của Tây
bây giờ trở thành những người cầm
đầu mặc dầu chỉ là về tôn giáo, nhưng
bắt buộc quan chức Tây phải biết đến,
tiếp đón, đối xử như những vị lănh
đạo tinh thần. Cao Đài tạo ra một hàng giáo
phẩm, cho nên không phải chỉ mấy người lănh
đạo có quyền hành, mà cả những người
ở cấp làng xă cũng trở thành chức sắc mà
quyền hành của họ song song với quyền hành
của các viên chức nhà nước. Hơn nữa Cao
Đài c̣n tự coi là một đạo có tính cách quốc tế,
thiết lập những chi nhánh trụ sở ở Pháp và
các nước Âu Mỹ, ủy nhiệm những
người Pháp làm phát ngôn viên hay phụ trách những chi
nhánh đó, nghĩa là sai bảo, chỉ đạo, chi tiêu
cho Tây. Đang bị Tây sai bảo, bây giờ sai bảo Tây.
1
Đánh giá tổng quát:
Bản nghiên cứu không
dựa vào bất cứ một lư luận nào, nhưng vào
một cuộc điều tra tỉ mỉ tại chỗ
và giải thích hiện tượng bằng cách đặt
nó vào hoàn cảnh xă hội đương thời vùng Saigon
- Gia Định, trước sự xuất hiện
của những tư tưởng lực lượng
tả khuynh, đặc biệt là phong trào Cộng sản.
Bản nghiên cứu đi đến kết luận: Cao
Đài là một hiện tượng phải quan tâm
nhưng không đáng quá lo ngại, hay nói cách khác, không quan
trọng hóa nó quá đáng v́ mối đe dọa thực
sự nghiêm trọng là Cộng sản, không phải ch́ v́
những chủ trương lư thuyết, sách lược
của họ, mà nhất là v́ cái gốc rễ của nó
ở ngoài Nam kỳ vượt khỏi tầm kiểm soát
chế ngự của nhà cầm quyền. Trái lại Cao
Đài có các chủ trương về giáo lư khác hẳn
Cộng sản, nhưng đặc biệt nó chỉ là
một hiện tượng thuần túy địa
phương, ở trong xứ, nên có thể kiểm soát
chế ngự được. Một chính sách cai trị
khôn khéo là để cho các hiện tượng xă hội bộc
lộ ra, dưới bất cứ danh nghĩa, và tổ
chức nào (văn hóa, tôn giáo...) và ngay cả nên để
cho nó có một cứ điểm (point de fixation) để
t́m hiểu những tâm lư, nguyện vọng của kẻ
bị trị và để dễ theo dơi... Nếu thấy
rằng một số những đ̣i hỏi nào đó không
quá đáng, không đe dọa đến an ninh, hay nền
tảng chế độ, có thể chấp nhận
được những đ̣i hỏi đó, ngoài ra t́m cách
chi phối, lợi dụng hay chế ngự những xu
hướng quá khích nguy hiểm.
Chúng tôi nghĩ rằng Pháp
đánh giá tương đối đúng hiện
tượng Cao Đài và đă có chính sách khôn khéo đối
với Cao Đài hồi mới thành lập.
Tuy nhiên, đọc tài liệu
của Pháp, không thể không phục những tác giả
nghiên cứu đă đưa ra một lối nh́n thông minh,
có giá trị khoa học và một thái độ chính trị
khôn khéo, đáng cho những người sau học tập,
nhưng cũng không thể không phục mấy
người sáng lập ra Cao Đài nhất là Lê Văn Trung
về tài tổ chức, điều hành.
Chỉ trong một thời
gian ngắn, họ đă thành công tranh thủ
được một lực lượng quần chúng
đông đảo có tổ chức: do biết lợi
dụng những đặc điểm của nền hành
chánh Nam kỳ, những kẽ hở, mâu thuẫn giữa
nhà cầm quyền ở thuộc địa và Pháp (dựa
vào những nhân vật, tổ chức ở Pháp) để
đưa Cao Đài ra công khai mặc dầu ở trong
một tư thế không phải hợp pháp, nhưng
cũng không phải bất hợp pháp, miễn là vẫn
tồn tại và phát triển được, do thành
lập được một tổ chức hành chánh
của nhà nước, và thiết lập được
một cứ điểm làm trung tâm ở một vùng sát
biên giới..., do khéo kinh doanh thực hiện
được độc lập về tài chánh không
nhận tài trợ của bất cứ ai, và giữ
được bí mật ngân sách đến nỗi Pháp
phải thú nhận đă gài người theo dơi t́m hiểu
mà vẫn không nắm chắc được những
nguồn cung cấp và cách điều hành..., sau cùng đă
khéo vận động quần chúng, không phải chỉ
bằng một sách lược có khả năng lôi
cuốn, thuyết phục như chủ trương b́nh
đẳng, dân chủ trong quan hệ giữa chức
sắc và tín đồ "mỗi người đều
là anh em"....
Trong một hoàn cảnh bị
ngoại bang cai trị dưới chế độ
thuộc địa, tạo ra được một
tổ chức quần chúng đông đảo, tương
đối riêng biệt chắc không phải là một
điều mà ai cũng làm được. Lê Văn Trung
chỉ thiếu có một điều, và là điều
cốt yếu nhất của một lănh tụ: Ư thức
chính trị để đưa tới một chủ
thuyết đường lối chính trị nào đó.
Peasant polities and religious
sectarianism: peasant and priest in the Cao Dai in Việt Nam. Jayne Jusan
Werner. Monograph Series no 23. Yale University Southeast. (Asia Studies 1981).
Quyển sách của JS. Werner
t́m hiểu sự h́nh thành của đạo Cao Đài. Sách
gồm 5 chương:
1. Cao Đài ra đời
ở Nam Mỹ thuộc Pháp; 2. Điền chủ và nông
dân; 3. Tây Ninh: thánh địa; 4. Bành trướng và suy vi; 5.
Kết luận. Ngoài ra c̣n phần thư mục và phụ
đính quan trọng.
Luận cứ chủ yếu
của Werner được tŕnh bày ngay từ lời
mở đầu: "Nông dân theo đạo Cao Đài chính
là v́ các lư do xă hội học - quan hệ thân chủ
(patron-client) và các lư do chính trị" (tr.1). Dĩ nhiên, tác
giả cũng quan tâm đúng mức đến ảnh
hưởng tác động của t́nh h́nh xă hội, kinh
tế, cũng như các yếu tố văn hóa, tâm lư và
tập quán tín ngưỡng của người miền Nam.
Chẳng hạn, mở đầu Chương I, tác
giả đă nhắc đến bối cảnh xă hội -
kinh tế đầu thập niên 30 khi cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới đe dọa nghiêm
trọng đời sống người nông dân, làm phân
rẽ thêm cơ cấu nông thôn đă bị chính sách
thuộc địa tàn phá từ trước (tr. 5-6).
Về mặt văn hóa tín ngưỡng, chương I nói về
truyền thống Tam Giáo, mô tả tổ chức Cao Đài
và thuật cầu cơ giáng bút như h́nh thức chính
yếu của tín ngưỡng này. Tuy nhiên sự phân tích xă
hội học là mối quan tâm hàng đầu của Werner;
ngay trong chương đầu này, tác giả đă
nhấn mạnh đến sự liên hệ đến các
phong trào đô thị đ̣i cải cách vào những năm
sau thế chiến I tại Nam kỳ với sự chào
đời của Cao Đài mà các lănh tụ hầu hết
là viên chức thị dân có tây học đă tiếp thu
được các tư tưởng huyền bí Tây
phương (Kerdec, Besant...) và đă biết lợi dụng
bộ máy tuyên truyền đô thị, nhất là báo chí
để cổ súy cho giáo phái ḿnh. Chương II là
chương vận dụng quan điểm xă hội
học một cách tập trung nhất; Werner đă dựa
vào danh sách các nhà lănh đạo Cao Đài để t́m
hiểu thành phần xă hội, giai cấp của họ
(xem phụ đính B) tài liệu quan trọng này cho thấy,
họ đều thuộc tầng lớp xă hội cao
ở miền Nam: địa chủ (như bà Lâm Ngọc,
người đă bỏ tiền mua miếng đất
lập thánh địa tại Tây Ninh), doanh thương
(như Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Thơ) viên chức
hành chánh cao cấp và thấp nhất (a) (như Nguyễn
Ngọc Tương, tri phủ; Nguyễn Văn Cả,
đốc phủ sứ, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang,
nhân viên quan thuế...). Bên cạnh tinh thần dân tộc,
phần nào yêu nước chống Pháp (như Phạm Công
Tắc) họ rất ư thức về địa vị xă
hội của họ như là điền chủ tư sản
và tiểu tư sản đang bị phong tỏa bởi
chính sách kinh tế thực dân tộc.
Quyền khai thác thuộc
địa, tước đoạt quyền hạn chính
trị - kinh tế của dân bản xứ.2 Am
tường luật lệ nước Pháp, họ đă dựa
vào quyền tự do tín ngưỡng để lập ra
đạo Cao Đài, thành lập một quốc gia công khai
trong một quốc gia mà lại tránh được sự
đàn áp của thực dân bao giờ cũng sẵn sàng
đập tan bất cứ một manh động chính
trị nào của dân bản xứ. Bên cạnh đó là
những người nông dân Nam kỳ, ở Chợ
Lớn, Long Xuyên, Cần Thơ, Mỹ Tho... nghèo đói
bị tước đoạt cả về chính trị
lẫn tinh thần sống qua ngày trong một cơ cấu
làng xă què quặt trong đó vắng mặt các thành phần
lănh đạo truyền thống như kỳ mục, giáp,
hương chức.... Các nguyên nhân xă hội học và chính
trị ấy đă sinh ra Cao Đài, một sự
nương tựa và nhau của một đàng là giới
tư sản địa chủ miền Nam đang t́m
quần chúng để xây dựng một thế lực
khả dĩ đối mặt với người Pháp và
một đàng là nông dân đang cần sự che chở
về các mặt kinh tế - chính trị và lúc nào cũng
khao khát chờ đợi những vị cứu tinh
đầy quyền pháp để giải thoát họ
khỏi sự lầm than cơ cực.
Chương III mô tả
sự thiết lập đạo Cao Đài ở vùng Tây
Ninh, sự phát triển của nó dựa vào tài tổ
chức cũng như sự ủng hộ của dân chúng
địa phương, đang t́m kế sinh nhai trong
cơn khủng hoảng với sự đóng góp của
nông dân các tỉnh. Đặc biệt, tác giả lưu ư
đến sự kiện dời về Tây Ninh đă giúp cho
Cao Đài tránh khỏi sự cạnh tranh bất lợi
với cộng sản đang có ảnh hưởng ngày
càng lớn ở vùng đô thị Sài G̣n và Chợ Lớn
nơi mà người nông dân đă đem đến cho Cao
Đài một sự hỗ trợ quyết định vào
buổi đầu lập đạo.
Chương VI nói về
sự thăng trầm của Cao Đài trong giai
đoạn kháng Pháp và dưới chế độ ông
Diệm, t́m hiểu thái độ người Pháp lợi dụng
Cao Đài để chống Cách Mạng cũng như liên
minh giai đoạn giữa Cao Đài với Cách Mạng
trong suốt thời kỳ nói trên. Chương này kết
thúc với sự tŕnh bày về thời kỳ suy sụp
của Cao Đài khi Mỹ giúp sức ông Diệm lật
đổ Bảo Đại và thanh toán mọi thế
lực thân Pháp ở miền Nam.
Trong chương kết
luận, sau khi tô điểm lại các nhân tố có liên quan
đến sự ra đời của Cao Đài như tín
ngưỡng và văn hóa truyền thống, kinh tế, tâm
lư dân tộc, tác giả một lần nữa nhấn
mạnh đến các nguyên nhân xă hội học và chính
trị như là luận cứ giải thích của ḿnh cho
hiện tượng Cao Đài. Chính sự thay đổi,
chuyển biến lịch sử - xă hội do người
Pháp gây ra ở miền Nam đă sản sinh thành phần
tư sản mới hoang mang giao động v́ thời
cuộc và địa vị lịch sử của ḿnh,
đă cố gắng thiết lập một trật tự
giữa khoảng trống xă hội khi các nền tảng
của xă hội nông nghiệp đă bị chế
độ thực dân hủy diệt. Chính bối cảnh
xă hội học miền Nam đă cho phép Cao Đài ra
đời trong khi mọi nỗ lực truyền
đạo của họ ra Trung và Bắc đều
thất bại v́ lư do giềng mối xă hội ngoài ấy
vẫn chưa bị lung lạc tận gốc và giới
sĩ phu vẫn duy tŕ được vai tṛ lănh đạo
xă hội, tinh thần của ḿnh.
Đây là tác phẩm hiếm có
dùng phương pháp và quan điểm xă hội học
để t́m hiểu hiện tượng Cao Đài.
Đối với giới nghiên cứu lịch sử VN vào
những thập niên đầu thế kỷ, đây là
một tài liệu quí không những về phần tham khảo
phong phú của nó mà c̣n là một công tŕnh học thuật
chặt chẽ công phu, với nhiều luận điểm
thông minh, sâu sắc làm sống lại một thời
kỳ phức tạp, đầy biến động,
bước ngoặt cơ bản của lịch sử VN:
bởi v́ song song với sự ra đời của Cao
Đài với những giới hạn lịch sử
sẽ đưa nó đến suy vong, thế giới c̣n
chứng kiến sự h́nh thành không ǵ ngăn cản
được của phong trào dân tộc, xă hội đích
thực ở Việt Nam.
HƯỚNG T̀M HIỂU CAO
ĐÀI
Qua những tác phẩm
biểu lộ Tôn giáo hay bàn về Tôn giáo chúng tôi
được đọc trong thời kỳ này. Chúng tôi
không cố t́m hiểu Tôn giáo chủ trương ǵ về
Giáo lư, đạo đức mà nhằm t́m hiểu Tôn giáo
xuất hiện trong những điều kiện hoàn
cảnh nào, chủ yếu xác định được
cái ǵ là chung đối với cả nước và cái ǵ là
riêng đối với miền Nam.
Trong thời kỳ Pháp
thuộc nghĩa là trong một hoàn cảnh không c̣n
được độc lập và tự do chính trị
mọi sự đều trở thành chính trị, văn
chương, tôn giáo ngay cả mê tín dị đoan cũng
được coi như những phương tiện
biểu lộ chống đối chính trị, làm chính
trị khi người ta không thể nói thẳng chính
trị, th́ mượn văn chương để nói
chính trị hoặc mượn tôn giáo để làm chính
trị...
Trong một báo cáo chính trị
gởi Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa. Toàn
quyền Beau đă nói đến hiện tượng
mỗi năm cứ đến dịp Tết là cả
trong ba xứ, những người bản xứ có ư
đồ xấu tung ra những tin đồn gây hoang mang
rối loạn: "Theo những tiên đoán này th́ năm
sắp tới sẽ đặc biệt khốn khó.
Hậu quả của việc người Tây đô hộ
sẽ được bộc lộ qua các tai họa không
kể xiết... Những thầy bói, chiêm tinh gia ở Trung
kỳ, Bắc kỳ thêu dệt nhiễu thoại xoay quanh
đề tài trên và các nhà Nho thất nghiệp bất măn
thừa dịp "đục nước béo c̣" khai
thác tính dễ tin của quần chúng."4 Hoặc cầu
cơ lên đồng không chỉ thấy nói nhiều ở
Nam kỳ với đạo Cao Đài mà ở Bắc
cũng đă thấy xuất hiện khá sớm. Một báo
cáo của Thống sứ Bắc kỳ gởi Toàn
quyền đề tối mật đă nhắc đến
một "Đạo Tam Thánh" mới xuất hiện ở
các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đặc
biệt ở Hà Đông, giáo lư mới này, bắt nguồn
từ Lăo Giáo, h́nh như được ghi nhận phát
xuất từ đền Ngọc Sơn, hồ nhỏ Hà
Nội.5 Giáo Lư này dựa trên việc thờ ba Vị
thần tượng Văn Xướng, Quan Đế, và
La Đông Tân, trong các buổi tụ họp mượn danh
nghĩa việc thờ cúng này, những người
bản xứ xin các vị thần qua trung gian một con
đồng, nói về tương lai.
Con đồng thường
được chọn trong đám người vô học
để dễ đánh vào trí tưởng tượng
của người dự, vẽ trong không khí những
chữ được thần gọi trong lúc mê và một
nhà Nho đồng lơa, dịch ra một cách sốt sắng
dưới h́nh thức một bài thơ sẽ
được đem in và phổ biến ở thôn quê, bài
thơ thường vô thưởng vô phạt nhưng
những lời chú giải bao giờ cũng nguy hại khi
được những thí sinh thi trượt hoặc ác
cảm với chúng ta làm. Ông Gallen đă có trong tay cả
một đống bản khắc in mà người ta có
thể t́m thấy, không kể những ám chỉ
đầy ác ư đối với sự chiếm đóng
của chúng ta và nhiều sấm ngôn về một giải
phóng xứ sở sắp tới, coi chúng ta như loại
"cỏ xấu" và "giống người ô uế
phải tẩy rửa cho sạch mọi dấu
vết." Sách bán 0,30 hoặc 0,50 mang những tựa
đề: Hộp Thiên Chân Kinh, T́nh Thân Chân Kinh, Tâm Thiên lan
Kinh, Trích lục Chánh Kinh.6 Những người in, giữ
sách này đều bị đưa ra ṭa và Công Sứ Hà
Đông cấm thờ "Đạo Tam Thánh" trong các
chùa và đ́nh làng..."
Sự kiện "Đạo
Tam Thánh" gợi ư cho chúng tôi nêu vấn đề sau
đây: Trong khuôn khổ Tam giáo phải chăng vẫn có
những nỗ lực cải cách, phục hưng, chế
biến, tạo những đạo mới, nhấn
mạnh vào một trong 3 đạo mới của Tam Giáo
tùy theo yêu cầu và hoàn cảnh mỗi nơi mỗi lúc
ở cả ba miền Nam Trung Bắc, nhưng bây giờ
sở dĩ người ta nói đến nhiều hơn
những Đạo mới do người VN sáng lập ra
trong khuôn khổ Tam Giáo ở miền Nam phải chăng
chỉ v́ Nam kỳ là đất có yêu cầu nhiều
hơn lại có điều kiện thuận lợi để
ra đời và phát triển trong khi ở ngoài Trung, ngoài
Bắc không có điều kiện thuận lợi. (Vừa
xuất hiện Tây đă cấm dẹp ngay như
trường hợp Đạo Tam Thánh...) nên ngày nay không
được biết đến?
Do đó cần một công
tŕnh điều tra, t́m hiểu qui mô sâu rộng mới có
cơ sở thực tế để giải đáp
vấn đề nêu trên. Trước mắt, chúng tôi
tạm thời đưa ra một giả thuyết:
Miền Nam có nhiều đạo do người VN lập
ra, ngoài những nguyên nhân chung c̣n có nguyên nhân lịch sử,
địa lư, chính trị riêng của miền Nam, nên
những Đạo này cũng mang tính chất riêng khác
biệt so với những hiện tượng tôn giáo
ở các nơi khác trên đất nước.
Chúng tôi dựa vào 2 nhận xét:
1. Ở miền Nam có những
đạo do người VN sáng lập ra trong khuôn khổ
Tam Giáo, nhấn mạnh nhiều vào Phật Giáo, đă ra
đời trước khi người Pháp sang và cũng có
khía cạnh chống đối triều đ́nh.
2. Khía cạnh chính trị trong
tôn giáo qua các hiện tượng mê tín, pháp thuật,
cầu cơ, sấm giảng v.v... th́ đâu cũng
thấy. Niềm tin có tính chất tôn giáo được
vận dụng như một lợi khí chính trị.
Nhưng chỉ ở Bắc, Trung mới thấy có
những tổ chức chính trị thuần túy, chuyên
nghiệp đảng phái chính trị chuyên nghiệp (Parti non-confessionnel)
không dựa vào niềm tin tôn giáo, quần chúng và tổ
chức giáo hội mà dựa vào một ư thức hệ
đời, tố chức thuần túy đời nhằm
những mục tiêu thuần túy chính trị dù dưới
bất cứ h́nh thức tranh đấu nào (vơ trang, văn
hóa, chính trị). Đề Thám, Đội Cấn, không
giống Phan Xích Long, Tân Việt, Việt Nam Quốc Dân
đảng, không giống Cao Đài, Ḥa Hảo.
Trái lại ở miền Nam
chúng tôi không thấy những đảng phái chính trị
đúng danh nghĩa như ở miền Trung, miền
Bắc, từ khi Pháp chiếm Nam kỳ đến 1930,
sử ít nói đến các phong trào tổ chức chống
Pháp, chỉ kể vài vụ như Phan Xích Long, phải
chăng v́ không thấy có những tổ chức chính
trị như ở Bắc, Trung, hay tại miền Nam ít
tinh thần chống Pháp? Theo tài liệu của Pháp7 chỉ
nguyên năm 1916 có 66 vụ rối loạn liên tiếp xảy
ra trong khắp các tỉnh ở miền Nam, tổng
cộng 1440 người bị bắt, vụ 11
người, vụ 50 người, vụ 300 người
v.v...
Đây không phải là những
vụ rối loạn riêng rẽ, mà thường có
phối hợp như thể một đồng khởi
theo một kế hoạch chung8 nghĩa là có tổ
chức, nhưng không mang danh nghĩa tổ chức chính
trị thuần túy.
H́nh thức chống
đối cũng không phải bằng vũ khí mà c̣n
bằng bùa phép, dựa vào những sức mạnh siêu nhiên
như đă thấy trong đoàn người mặc toàn
đồ trắng đeo bùa đi đánh phá khám lớn
Saigon năm 1913. Người lănh đạo cũng không
phải đơn thuần chỉ là một lănh tụ chính
trị mà là một thầy pháp tự nhận là con vua, con
trời giáng thế (Phan Xích Long). Do đó, không thể
hiểu đúng những tổ chức hoạt động
chính trị, tôn giáo ở miền Nam nếu chỉ nh́n
bằng con mắt dựa vào thực tế sinh hoạt
tổ chức chính trị tôn giáo ở miền Bắc,9 v́
ở miền Nam không thể tách rời chính trị ra
khỏi tôn giáo, pháp luật, tư lợi, tương
trợ nghĩa hiệp. Một vài người Pháp nghiên
cứu t́nh h́nh miền Nam thời kỳ này đă nhận
ra các nét đặc biệt của miền Nam như đă
thấy trong bảng phân tách "Cao Đài" của
Lalaurette và Vilmont. Nhưng hai tác giả này mới phác
họa mấy điểm sơ lược, G. Koulet
một người có dạy học ở trường
Petrusky đă dựa vào những tài liệu công an tịch
thu được10 để t́m hiểu và phân tích khá sâu
sắc các nét đặc biệt kể trên, đưa ra
những kết luận thật thông minh mà chúng tôi nghĩ
rằng đă ảnh hưởng trên lối nh́n và xác
định đường lối của những
Lalaurette và Vilmont. Ư tưởng căn bản của Coulet
trong cuốn "Les sociétes secrètes en terre D'AnNam" là :
những hoạt động tổ chức chính trị
đặc biệt ở miền Nam gồm ba khía cạnh
chính không thể tách rời nhau được.
1. Khía cạnh pháp thuật
dựa vào những sức mạnh siêu nhiên để
biết được tương lai, đường
hướng hoạt động để tác động
vào những sức mạnh tự nhiên thay đổi hay
củng cố thêm chữa bịnh hay làm cho thêm can
đảm không sợ đau ốm sợ chết.
2. Khía cạnh tôn giáo, dựa
vào những nghi lễ, giáo lư đạo đức
để vận động, đoàn ngũ hóa quần
chúng (chẳng hạn nghi lễ tuyên thệ gia nhập
tổ chức đạo).
3. Khía cạnh tổ chức
trần tục (dựa vào những sinh hoạt kinh doanh,
thể thức đóng góp để thỏa măn nhu cầu
tương trợ xă hội (nghị hiệp) và tư
lợi danh vọng quyền lợi cá nhân, chức
tước, địa vị, tiền bạc v.v...
Những tổ chức chính
trị mang ba tính chất trên không phải chỉ nhằm chống
Pháp, mà thực ra nhằm chống mọi thứ chính
quyền. Như thể một thứ đối lập
vĩnh viễn, không bao giờ muốn thừa nhận công
khai, dứt khoát bất cứ chính quyền nào (dù là của
triều đ́nh hay là của Tây).
Nhưng v́ không phải là
tổ chức đơn thuần chính nị, nên đương
nhiên phải thất bại, hơn nữa c̣n có xu
hướng thiên về thất bại, v́ có thất
bại mới tồn tại lâu được, nhưng
về phía chính quyền, như thế mới thật
phiền khi phải đối phó với những hoạt
động của một tổ chức chống
đối không thể nhận hiện diện rơ rệt
chính xác là ǵ, ở đâu, như thể ở khắp
mọi nơi mà đồng thời không ở đâu
cả, v́ chủ yếu hoạt động bí mật và cái
công khai chỉ là bề mặt, bề nổi, hoặc khi
phải đầu với những hoạt động
chống đối này lại nhận ra những
người lănh đạo các tổ chức chống
đối đó không phải đơn thuần chỉ là
những lănh tụ chính trị, mà c̣n là thầy pháp,
thầy đạo rêu rao những lư thuyết mang tính
chất tôn giáo và v́ thế nếu đàn áp họ th́
chỉ củng cố thêm uy tín của họ đối
với quần chúng. Nhận định thư vậy nên
G. Coulet đă đưa ra kết luận: không thể
đơn giản dùng bạo lực hay biện pháp hành
chánh pháp luật để đối phó tiêu diệt
những tổ chức chính trị mang màu sắc tôn giáo hay
những tôn giáo mang màu sắc chính trị thấy
được ở miền Nam.
Về Cao Đài, chúng tôi
đọc thêm được bài của Trần Huy
Liệu đăng trong Đông Pháp thời báo (Le courrier
Indochinois số 29, 12-1928 "Lên án 8 điều giả
dối của đạo Cao Đài", và tập tài
liệu số 7 viết về Cao Đài của Louis Marty,
giám đốc pḥng 2 tại phủ toàn quyền.11 Thực
là một điều đáng lưu ư khi nhận thấy
lối nh́n của Trần Huy Liệu, Đào Trinh Nhất
và Louis Marty giống nhau và đều khác lối nh́n của
Lalaurette và Vilmont. Ba người này mặc dù khác nhau về
quốc tịch, lập trường chính trị cũng
khác nhau, vẫn có một lối nh́n giống nhau v́ ông
Nhất và ông Liệu là những nhà báo gốc người
Bắc vào trong Nam c̣n Louis Marty sống lâu năm ở Hà
Nội, sáng lập và chỉ đạo Nam Phong, chú ư
từng bài viết một, nên am hiểu thấm nhuần
văn học miền Bắc và v́ thế có lẽ không
khỏi chịu ảnh hưởng lối nh́n miền
Bắc. Chỉ đọc các đề bài báo của Trần
Huy Liệu đă đủ thấy thái độ và mục
đích của ông thế nào rồi. Bản viết của
Louis Marty là một báo cáo cho toàn quyền lối nh́n và tinh thần
khác hẳn nếu không nói là chống đối, lối
nh́n của Lalaurette và Vilmont. Trong suốt hơn trăm trang
Marty chỉ tŕnh bày Cao Đài về mặt giáo lư liên quan
đến các đạo Lăo, Phật... Marty chỉ
để nửa trang nhắc qua những luận
điểm về điều kiện xă hội, chính
trị như Lalaurette và Vilmont đă vạch ra và Marty có nói
đến cùng với công tŕnh của Cousetau, Garric. Trong
lời nói đầu, Marty đă phê b́nh là "quá
đáng" nhiều luận điểm của Lalaurette và
Vilmont nhất là câu của Lalaurette viết rất trang
trọng được trích dẫn cho rằng đạo
Cao Đài xuất hiện để đáp lại một
khủng hoảng tinh thần của một dân tộc
cảm thấy những nền tảng đạo lư của
ḿnh bị lung lạc và đi t́m một điểm tựa
mới cho những niềm tin thiêng liêng của ḿnh (la crise
émouvante d'un peuple sentant défaillir ses assises morales et cherchant un
nouveau point d'appui pour ses croyances spirituelles).
T́m hiểu về mặt lư
thuyết, dựa trên cái hợp lư, Marty giống như
Đào Trinh Nhất, cho rằng Cao Đài không phải là tôn
giáo, cũng chẳng là chính trị chỉ là một thứ
tà đạo, bịp bợm không đáng kể nên Marty không
hề nhắc đến những liên hệ của Cao
Đài với các phong trào khác, cùng xuất hiện vào
thời kỳ đó như đảng Cộng sản.
Một vài nhận định
sau đây biểu lộ thái độ khinh bỉ coi
thường Cao Đài như thế nào: "Cao Đài
chỉ là một công cuộc làm ăn để khai thác tính
nhẹ dạ của những kẻ ngây thơ, không
thấy bất cứ lúc nào Cao Đài nhằm phục
vụ một đảng chính trị nào. Người ta có
thể khẳng định về phương diện
chính trị, phong trào Cao Đài trong quá khứ không hề có
một thứ ư nghía ǵ, về phương diện tôn giáo,
rồi người ta sẽ thấy, nó chỉ khêu gợi
những thứ bắt chước khờ dại các
thờ tự đă có, c̣n về phương diện xă
hội, ảnh hưởng của nó rất phiến
diện, như một thời trang sẽ qua đi."
Hoặc "Cao Đài
chưa bao giờ là một tôn giáo, càng không phải là
một tôn giáo mới, v́ giáo lư th́ không có, các thần
tượng chỉ là đất sét, c̣n việc tế
tự chỉ là một pha trộn những mê tín Á Đông
với mấy ư thức hệ phương Tây. Đạo
xuất hiện không hề do bất cứ một nhu
cầu tin tưởng hay một lo lắng băn khoăn
nào "động cơ duy nhất mà những kẻ
xướng xuất đă tạo ra cái "hăng tôn giáo"
này là tinh thần thích cái hào nhoáng và tính kiêu ngạo của
họ... không có bất cứ một định nghĩa
hợp lư nào xứng hợp với hiện tượng
này."
Marty kết luận bằng
cách mỉa mai đường lối của nhà cầm
quyền Nam: những bọn buôn thần bán thánh này chưa
bị đưa ra khỏi đền thờ và các cầm
quyền địa phương chiêm ngưỡng một
cách thanh thản (Contemple avec sérénité) những tranh ảnh
ở Tây Ninh... chờ đợi phong trào này tự
quyết định lấy số mệnh của nó. Sau
cùng, chúng tôi được đọc đặc khảo
của J. Susan Werner nhan đề: Peasant Politics Sectarianism:
Peasant and Priest in the Caodai in Vietnam.12 Đọc thư
mục chúng tôi được biết tác giả đă làm
một luận án về Caodai hồi 1976: "The Caodai: The
Politics of a Vietnamese Syncretic Religion Movement." (Ph. D.
Dissertation, Cornell University, 1976). Được biết có
luận án khác về Cao Đài ở Cao Miên của Pièrre
Bernadine: Le Caodaisme au Cambodge." (Thèse pour le Doct., de 3eme cycle.
Univ. de Paris VII. 1974).
Ngoài ra có nhiều tài liệu
khác thuộc loại báo cáo của các viên chức Pháp
thời đó và của Mỹ sau này, hay thuộc loại
biên khảo. Sự kiện nhiều người Âu Mỹ
để ư nghiên cứu Cao Đài cũng là điều
đáng suy nghĩ.
Lối nh́n của J.S. Werner là
của một nhà xă hội học. Tác giả đă nêu lên
những yếu tố kinh tế, xă hội, chính trị,
văn hóa nhằm tŕnh bày một giải thích bao quát
hiện tượng Cao Đài về nguồn gốc và
diễn tiến. Tuy không phủ nhận tầm quan
trọng của yếu tố kinh tế và văn hóa, Werner
đă nhấn mạnh hơn vào yếu tố xă hội và
chính trị, được coi như có tính cách quyết
định trong việc t́m hiểu tại sao Cao Đài
chỉ xuất hiện ở miền Nam mà không phải
ở các nơi khác. V́ lư do chỉ ở miền Nam thời
kỳ đó mới có những điều kiện
thuận tiện cho sự xuất hiện của Cao
Đài. Chẳng hạn về nguồn gốc, tác giả
cho thấy chế độ thuộc địa đă
tạo ra giai cấp địa chủ hướng về
thành thị, làm cho tầng lớp nông dân nghèo khổ hơn
v́ sưu thuế cao. Cả hai lớp người này
đều có những thành phần bất măn với
chế độ thuộc địa gây nên những xáo
trộn về xă hội, chính trị, đặc
điểm ở vùng đô thị hóa sớm và mạnh
hơn cả (vùng phụ cận Saigon - Cholon). Người
Pháp cũng đă thay đổi cơ cấu tổ
chức làng xă xóa bỏ nền tự trị cổ
truyền, tạo nên một khoảng trống về lănh
đạo tinh thần. Ngoài ra truyền thống Tam giáo suy
yếu, tỏ ra không thích nghi được với t́nh
thế mới. Tuy nhiên tác giả chú ư nêu bật những
điều kiện riêng thuận lợi ở miền Nam
cho việc xuất hiện của Cao Đài: chính sách
thuộc địa được thi hành sớm hơn
ở miền Nam, tầng lớp tư sản chịu
ảnh hưởng Tây học cũng sớm hơn so
với miền Bắc, miền Trung, nên hiểu biết
sớm hơn những kẽ hở mâu thuẫn trong
nền hành chính Pháp và thuộc địa để khai thác,
lợi dụng, đồng thời cũng biết lợi
dụng thể chế tương đối tự do
về chính trị ở Nam kỳ nhằm tạo ra
được một thứ quốc gia trong một
quốc gia; cơ chế văn hóa lỏng lẻo hơn
ở miền Nam, so với miền Bắc, miền Trung,
lại bị xúc phạm nặng nề, trong khi ở
miền Bắc, miền Trung, cơ chế làng xă, lănh
đạo tinh thần kể như vẫn c̣n nguyên vẹn
v́ người Pháp chưa đụng tới. Sự
kiện trên tạo nên một khoảng trống và Cao
Đài xuất hiện như một khoẻo lấp
khoảng trống đó.
Thực ra, có thể kể
thêm một số yếu tố khác mà tác giả ít lưu ư:
chẳng hạn vai tṛ cá nhân của một vài người
sáng lập như Lê Văn Trung, hoặc đường
lối chính trị khôn khéo thận trọng của
những người cầm quyền thời đó đă
để cho Cao Đài tồn tại như tài liệu
của Coulet và Lalaurette, Vilmont đă cho thấy.
Ngày nay, không ai phủ nhận
tầm quan trọng của những điều kiện qui
định một hiện tượng có thể xuất
hiện hay không, hoặc có thể phát triển hay suy tàn. Dù
Lê Văn Trung có tài giỏi, khôn khéo thế nào đi nữa,
nếu không có một số điều kiện kinh tế,
xă hội, chính trị, văn hóa thuận lợi th́ cũng
không làm cho đạo Cao Đài xuất hiện và phát
triển mau lẹ trong một thời gian ngắn. Nhưng
những điều kiện qui định, dù ngay cả
trường hợp có tính cách quyết định vẫn
là những yếu tố ngoại tại (extrinsèques), không
phải là yếu tố cấu tạo hiện
tượng có tính cách nội tại (intrinsèques). Thuộc
loại những yếu tố cấu tạo có tính cách
nội tại này chúng tôi muốn nói đến những chức
năng gắn liền với cấu trúc hiện
tượng tôn giáo. Sở dĩ chúng tôi thấy phải
đi xa hơn việc xác định nhận diện
những yếu tố khách quan qui định có tính cách
ngoại tại trong việc t́m hiểu tại sao có
người theo một ư thức hệ, tôn giáo là v́ sự
kiện có người theo một ư thức hệ, tôn giáo
không phải chỉ v́ những yếu tố động
cơ đă xác định được, thậm chí c̣n
trái ngược với những yếu tố, động
cơ đó nữa. Chẳng hạn trường hợp
Trương Duy Toản theo Cao Đài lúc ông không c̣n hoạt
động chính trị chống Pháp nữa, nghĩa là Cao
Đài không phải là biểu hiện một thứ
chủ nghĩa quốc gia đối với ông hoặc
kỹ sư, bác sĩ Nguyễn Ngọc Bích, giám đốc
nhà xuất bản Minh Tân (Paris) con ông Nguyễn Ngọc
Tương là một trong hai người (người kia
là Lê Bá Trang) mà Pháp đánh giá là thành thật, xác tín theo
đạo Cao Đài (tài liệu La laurette trang 107).
Cuốn đặc khảo
của Werner, đối với chúng tôi, rất đáng
lưu ư ở chỗ tác giả đă cố gắng t́m
hiểu những lư do, nguyên nhân riêng ở miền Nam
để giải thích sự xuất hiện của Cao
Đài theo lối nh́n xă hội học. Phần đóng góp
đáng kể hơn cả về mặt nghiên cứu xă
hội học, là phụ lục B, thiết lập hồ
sơ lư lịch xă hội, thành phần giai cấp của
54 chức sắc đầu tiên của Cao Đài bản kê
khai đó ít ra là một cơ sở để nhận
định giới lănh đạo Cao Đài về mặt
giai cấp xă hội. Tài liệu của La Laurette, Vilmont
cũng rất quí về phần lư lịch chính trị
của một số người lănh đạo sáng
lập đạo Cao Đài, khá chính xác v́ dựa vào hồ
sơ công an, cảnh sát.
Chúng tôi rất mong có những
ai thiết lập được một điều tra xă
hội về những nguyên nhân động cơ qui
định việc theo đạo Cao Đài của
nhiều giới khác nhau, thời đó hay bây giờ.
Một tài liệu như vậy sẽ cho thấy một
cách cụ thể yêu cầu đi xa hơn việc xác
định những điều kiện kinh tế, chính
trị, xă hội như Werner đă làm. Dựa vào một
vài hiểu biết riêng mà chúng tôi có về một số
trường hợp theo đạo Cao Đài, chúng tôi
thấy có thể giải thích được theo
hướng dựa vào những chức năng tôn giáo.
Hướng giải thích này cũng có cơ sở lư
luận của nó.
Gần đây từ khi
bản thảo cuốn "Grundisse: Nguyên Lư Phê Phán Chính -
Kinh Tế Học" của K. Marx được khám phá
và in ra, trong đó có chương đầu bàn về:
"Các h́nh thái trước nền sản xuất tư
bản chủ nghĩa" đă giúp người
đọc có cơ sở cho một lối nh́n sâu hơn
về mặt tôn giáo. Những kiến thức về
những phương thức sản xuất của
những xă hội tiền tư bản (đặc
biệt phương thức gọi là "tributaire"
một danh xưng thay thế cho phương thức
sản xuất Châu Á) cho thấy tôn giáo dân gian không phải
chỉ là một phản ảnh ư thức hệ trên
thượng tầng kiến trúc mà có những chức
năng xă hội liên hệ với hạ tầng kiến
trúc.13 Có thể nhận diện hai chức năng chính sau
đây:
1. Chức năng hội
nhập xă hội: Tùy hoàn cảnh, t́nh h́nh mỗi nơi
mỗi lúc mà chức năng này sẽ là chức năng
bảo vệ (có tính chất bảo thủ) hay chức
năng phản kháng (chống đối, cách mạng).
2. Chức năng ước
mơ, hướng thượng: Đó là một dự
phóng về tương lai ở trong trần gian này hay
vượt khỏi trần gian này. Dự phóng có mục
tiêu rơ rệt hay không có, chỉ thị ngay chính vận
động dự phóng mà thôi (thiên đường, thiên
thai, thế giới đại đồng, coi an b́nh, thượng
nguồn...) dự phóng ước mơ được
biểu lộ qua sự trông đợi một đấng
cứu thế, một sự giáng thế loan báo, đề
nghị con đường hướng thượng.
Chúng tôi nghĩ rằng, sau khi
đă t́m hiểu một cách nghiêm chỉnh những
điều kiện kinh tế, chính trị, xă hội,
văn hóa qui định sự xuất hiện, h́nh thành các
tôn giáo ở miền Nam lên đi xa hơn t́m hiểu xem tôn
giáo đó có những chức năng vừa kể không.
Một cách cụ thể muốn t́m hiểu Cao Đài, Ḥa
Hảo, phải trở ngược lên ít ra là Bửu
Sơn Kỳ Hương với Đức Phật
Thầy Tây An v́ hai đạo này, phải chăng vẫn là
một tiếp nối những nét chính yếu của
Bửu Sơn Kỳ Hương?
Về Bửu Sơn Kỳ
Hương, chúng tôi thấy những chủ trương
của đạo này có thể hiện hai chức năng
hội nhập và hướng thượng. Chức
năng hội nhập biểu lộ xu hướng
nhập thế của đạo dựa vào giáo lư tứ ân
(ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam
bảo, ân đồng bào và nhân loại). Tính chính trị đậm
nét của Cao Đài, Ḥa Hảo, phải chăng ở
chỗ trước khi là tín đồ của Cao Đài, Ḥa
Hảo, họ đă thấm nhuần giáo lư tứ ân,
nhất là ân tổ quốc, ân đồng bào mà truyền
thống "hiếu nghĩa tứ ân" được
biểu lộ qua các bậc cha anh như Nguyễn Trung
Trực, Trần Văn Thành (tức cố quận) cùng bao
nhiêu liệt sĩ khác đă là tín đồ của Bửu
Sơn Kỳ Hương vẫn c̣n sống động
trong tâm trí họ?
Chức năng hướng
thượng dựa vào giáo lư về thời Hạ
ngươn và Thượng ngươn, về Hội Long
Hoa đưa tới cơi Cực Lạc, về một
đấng Minh Vương giáng thế báo hiệu thời
kỳ mạt Pháp, Hạ ngươn sắp chấm
dứt, thức tỉnh nhân sanh c̣n mê man trong thời kỳ
Hạ ngươn mở ra Hội Long Hoa, chọn người
hiền đức đưa lên thời kỳ
Thượng ngươn. Đức Phật thầy Tây An
là một đức Minh Vương giáng thế kể trên.
Sau Đức Phật Thầy Tây An là các môn đệ
tiếp nối sứ mệnh của ngài như các ông
Đạo Xuyên, Đạo Lập, Đạo Sĩ,
Đạo Thắng, Đạo Chợ, Đạo Độ,
rồi Đức Huỳnh giáo chủ. Ở Bắc
Mỹ, thời kỳ đầu di dân, cũng thấy có
hiện tượng phát sinh nhiều giáo phái cùng một xu
hướng chung: dự định thực hiện
những thiên đường dưới thế (Heavens on
Earth) qua những cộng đồng nhỏ với
những tổ chức lư tưởng gần như không
tưởng. Engels đă tả nếp sống của
một cộng đồng giáo phái nổi tiếng Shakers
như sau: "Không ai buộc phải làm một việc
trái ư ḿnh; không ai muốn làm việc lại không có việc
làm; không có nhà dưỡng lăo, viện tế bần nhà
mồ côi v́ không ai bị bỏ rơi, đói khổ cô
độc. Không có cảnh sát, quan ṭa, nhà tù v́ không có
phạm nhân, mọi của cải là của chung, không có
buôn bán, tiền bạc..." Có thể đếm
được 36 giáo phái nổi tiếng do 36 người
lập ra. Hiện tượng trên ở Bắc Mỹ không
thể không làm cho người ta nghĩ tới các ông
Đạo ở Nam kỳ. Theo Desroches, ngoài ba nguồn
vẫn gán cho sự h́nh thành chủ nghĩa Cộng sản
Âu Châu (triết học Đức, kinh tế Anh, chủ
nghĩa xă hội Pháp) phải kể thêm nguồn thứ
tư nữa đó là chủ nghĩa Cộng Đồng
tôn giáo ở Bắc Mỹ.14
Hướng mà chúng tôi
đề ra như một giả thuyết để t́m
hiểu khía cạnh tôn giáo ở miền Nam là trước
hết xác định văn hóa làng xă cổ truyền
ở miền Bắc, thời cựu trào và thời Pháp
thuộc, như những yếu tố thuận lợi hay
không thuận lợi, cho việc thể hiện hai chức
năng hội nhập xă hội, hướng thượng
kể trên.
Chẳng hạn: tinh thần
tự quản, tự túc trong những thể chế hành
chánh xă hội lỏng lẻo làm cho người nông dân không
những không cảm thấy được đảm
bảo về an ninh xă hội, mà cả về an ninh ư
thức hệ như làng xă miền Bắc. Quan hệ xă
hội ở đây nhấn mạnh vào vai tṛ của cá nhân
hơn của tập thể. Con người ở vùng
đất mới tiếp xúc, đối phó với một
thiên nhiên mênh mang (sông ng̣i, rừng rậm) c̣n hoang vu,
đối nghịch (ác thú). Giao lưu văn hóa với
Phật giáo tiểu thừa là một thứ Đạo
nhạy cảm với những khía cạnh siêu h́nh về ư
nghĩa cuộc đời: tính hữu hạn, tính bất
toàn thiện của trần thế v.v...
Về chức năng
hướng thượng, chúng tôi cũng nêu giả thuyết:
phải chăng v́ các tôn giáo dân gian ở miền Nam đă
có chức năng này nên khi đạo Thiên Chúa
được truyền vào miền Nam, việc rao
giảng về Đấng Cứu Thế hứa hẹn
hạnh phúc ở đời sau không hấp dẫn lôi
cuốn người dân đồng bằng sông Cửu Long
bằng người dân đồng bằng sông Hồng là
nơi theo sự hiểu biết hiện nay của chúng
tôi, không thấy có chức năng hướng
thượng trong các tôn giáo dân gian và người dân lại
sống trong một t́nh cảnh hầu như tuyệt
vọng về kinh tế, chính trị, xă hội, tóm lại
về cuộc đời này?
Dưới thời Pháp
thuộc, trước 1930, những yếu tố nổi
bật của t́nh h́nh miền Nam như những
đảo lộn xă hội, thất nghiệp hoặc làm
thuê mướn hay làm mai nghỉ, những cải cách hành
chánh ở nông thôn diễn ra rất sớm do chính sách
trực trị, đồng hóa đă xóa bỏ vai tṛ lănh
đạo tinh thần, chức năng tế tự
của những người đứng đầu làng xă
được bầu ra v́ uy tín đạo đức, nay
chỉ c̣n là những viên chức lo việc hành chánh bị
dân chúng coi thường khinh bỉ, đó là những
yếu tố thuận lợi cho đạo Cao Đài ra
đời nhằm đáp ứng những đ̣i hỏi
của chức năng "hội nhập xă hội."
Đạo Cao Đài không trực tiếp chủ
trương tranh đấu chính trị hay đề ra
một cải cách xă hội nào, nhưng lại tạo
được một chỗ đứng cho nhiều
tầng lớp trong một tổ chức, cơ chế
riêng coi như của ḿnh bên cạnh khuôn khổ cơ
chế xă hội do người Pháp áp đặt mà ít
nhiều họ đều bất măn, chống đối.
Nói cách khác, Cao Đài phục
hồi được phần nào nề nếp tự
trị của làng xă ở một qui mô rộng lớn
hơn, trong đó người có vai tṛ lănh đạo
được làm lănh đạo, người cần
được lănh đạo có người lănh đạo,
thực hiện được điều mà người
Pháp (La Laurette, Vilmont) gọi là "một quốc gia trong
một quốc gia." Đây là một tổ chức quần
chúng đông đảo và sớm hơn cả. Những
người theo Cao Đài nghĩa là vào một tổ
chức quần chúng có lănh đạo, nghi thức
tương trợ xă hội, cảm thấy như
"được hội nhập về mặt xă
hội." Nhưng chỉ sau một thời gian,
những yêu cầu lớn lao về chính trị xă hội
của cả nước đ̣i hỏi những thay
đổi triệt để, những h́nh thức tranh
đấu trực diện để thực hiện
những thay đổi đó. Ư thức hệ Cao Đài
trong chức năng "hội nhập" mang tính
chất bảo thủ không thể đáp ứng
được những đ̣i hỏi lớn lao kể
trên.
Do đó, Cao Đài không thể
tránh được những phân hóa, những sa đọa
làm lu mờ chức năng hội nhập, nhưng khơi
dậy làm nổi bật lên chức năng hướng
thượng. Những ư nghĩ về thời mạt phát
những ước mơ về Hội Long Hoa thời
Thượng Ngươn vẫn được nuôi
dưỡng nay trở thành sống động, lôi cuốn
hơn. Phải chăng những đạo Cao Đài, Ḥa
Hảo vẫn tồn tại cho đến ngày nay mặc
dầu đă trải qua những thử thách từ bên trong
ra và từ bên ngoài vào, nghĩa là giáo lư c̣n có cơ sở
để giữ lại những Tín đồ hay lôi kéo
thêm người tin theo v́ những Đạo này vẫn là
một tiếp nối truyền thống tôn giáo dân gian
miền Nam mang tính chất trông đợi giáng thế
như đă thấy được biểu lộ rơ
rệt trong Bửu Sơn Kỳ Hương?
CHÚ THÍCH:
(1) Sau khi người Pháp
đă ra đi, vẫn c̣n thất tâm lư này. Một giám
mục Việt Nam đi đâu cũng được
một linh mục người Pháp đi theo, và trước
đám đông, ông cố ư đưa chỉ thị, trao công
tác một cách công khai, đă làm cho linh mục này nhận xét:
Giám mục này thực hiện một thái độ
thực dân đảo ngược (colonialisme à rebours). Hay
trường hợp một giám đốc cơ quan có
người được Pháp cấp học bổng
đi tu nghiệp. Dĩ nhiên, Pháp mời, phải xắp
xếp bố trí tất cả việc đi, ăn ở.
Nhưng gần đến ngày lên đường, vị
giám đốc đó yêu cầu Pháp dời chuyến đi.
Được hỏi tại sao, ông trả lời là
để chứng tỏ ta chủ động, không
phải họ...
(2) 60 phần trăm chức
sắc Cao Đài làm việc trong chính quyền thuộc
địa, nếu tính luốn số hương chức
làng xă, tỉ lệ lên đến trên 75% (tr. 21, Werner).
(3) trang 72 - trong quyển sách
mới nhất của ông, Anatomy of a War, Partheon Books, New York
1985 Gabriel Kolko có tham khảo tài liệu của J.S. Werner và
cũng nhận định tương tự về sự
hoang mang của tư sản Nam kỳ trong giai đoạn
này, kẹt giữa hai gọng ḱm: một bên, chính sách áp
bức thuộc địa của Pháp, một bên quyền
lực kinh tế áp đảo của giới Hoa Kiều
tại miền Nam Cao Đài chính là lối thoát cho một
bộ phận mới tư sản Việt Nam.
(4) Báo cáo số 259 - Saigon
7-2-1907
(5) Hồ Hoàn Kiếm: Tây
gọi là "Petit Lae" so sánh với Grand Lae: Hồ Tây.
(6) Reppon à M. le gouvernement general.
Rapport politique. 4e trimestre 1911 Residence superieure au Tonkin (kư tên
không rơ).
(7) G. Coulet Les sociétés secrètes en
terre d'Annam, Saigon Imp commerciale (Ardin 1926 trang 95).
(8) Sách trích dẫn. Coulet trang
19.
(9) Ngay cả sau 1930
đến 1975 trừ đảng CS, các đảng phái khác
ở miền Nam thường do người Trung,
người Bắc lập cũng dựa vào tôn giáo, nhưng
không giống ở miền Bắc.
(10) Đặc biệt
loại tài liệu Coulet gọi là "văn chương
CM" gồm các bài thơ ca tụng quá khứ (độc
lập) thù ghét hiện nay (bị Pháp đô hộ) những
luận thuyết yêu nước. Đây là thứ tài
liệu rất quí, chỉ tiếc một điều Coulet
đă dịch hầu hết ra Pháp văn nên bây giờ chúng
ta không c̣n nguyên văn.
(11) trang 78: Gouvernement general de
l'Indochine. Direction des affaires politiques et de la sureté genérale
Contribution à l'histoire des Mouvements politiques de l'Indochine fse
Documents vol. no.VII de Caodai (1926 - 1934).
(12) Monograph series N 23 Yale University
southeast Asia studies 1981. Trang 122.
(13) Có thể tham khảo
cuốn "Religion est Modes production précapitalistes của
Francois Houtart Ed de l'Université de Bruxelles 1980. Tác giả là
một nhà xă hội học thuộc đại học Louvain
đă sang Vietnam làm việc với các viện khoa học xă
hội trong mấy năm gần đây. Về
hướng t́m hiểu tôn giáo theo chức năng
ước mơ, hướng thượng, có thể tham
khảo những công tŕnh của nhà triết học Đông
Đức Ernst Bloch, như cuốn "Không Tưởng và
Hy Vọng" bản dịch tiếng Pháp Utopie ce Espérance.
Cerf, Paris, 1974. Theo Bloch th́ tôn giáo là sự sáng tạo không
tưởng của con người, là "giấc mơ
của nhân loại hướng thượng." Nhiều
người đă theo gót Bloch nghiên cứu những tôn giáo
có tính chất trông chờ một giáng thế ở các
nước thuộc thế giới thứ ba như E.
Muchmann với Messianismes Révolutionnaires du Tiers-Monde, Gallimard 1968
. M.Sinda, le messianisme congolais et ses incidences politiques, Payot Paris,
1972.
(14) Xem: Desroches, socialismes et
sociologie religieuse. Ed. Cujas, Paris 1965. Đặc biệt là
chương đầu: "Heavens on Earth" -
Micromillénaismes et Communautarismes utopiques en Amérique du Nord du XVII au
XIX siècle. Tác giả có trích đăng những bài nghiên
cứu của Engels về các "hợp tác xă cộng
đồng" ở thế kỷ XIX, mô tả những
thuộc địa Cộng sản vừa thành lập hăy
c̣n tồn tại. Nếu chấp nhận lập luận
của Desroches có lẽ sẽ dễ dàng giải thích
sự quyến rũ của chủ nghĩa Cộng
sản Âu Châu, trong tập đặc khảo kể trên,
Werner nhận xét Cao Đài không thể đua tranh với
sức mạnh lôi cuốn của phong trào Cộng sản.
Thực ra th́ vào thời kỳ ấy không những ở
các thuộc địa mà cả ở Âu Châu, không một ư
thức hệ chính trị nào đua tranh được với
lư tưởng Cộng sản v́ lư tưởng này không
phải chỉ nhằm tranh đấu dành lại
độc lập chính trị giải phóng dân tộc, mà c̣n
đề ra một giải phóng toàn diện con
người với lối nh́n mang tính chất của ba
nguồn và với những động cơ tâm lư của
nguồn thứ tư theo Desroches. Chúng tôi nghĩ rằng
bao giờ mà nguồn thứ tư c̣n được tin
tưởng nhất đă ở các nước thế
giới thứ ba, th́ chủ nghĩa Macxit vẫn c̣n
khả năng hấp dẫn - mặc dầu ba nguồn
kia có thế nào đi nữa.